tình hình dịch bệnh gia súc gia cầm

Báo cáo tình hình dịch bệnh gia súc gia cầm và kết quả công tác phòng chống

Kết quả tình hình dịch bệnh gia súc gia cầm và công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm cũng như phương hướng công tác trong thời gian tới.

A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

  • Thành phố là thị trường lớn tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc động vật, ngành chăn nuôi thành phố chỉ có khả năng tự cung cấp 15-20 % nhu cầu thực phẩm tươi sống nguồn gốc động vật. Bình quân nhu cầu tiêu thụ sản phẩm động vật của thành phố hiện nay khoảng 650 – 700 tấn/ngày, tương đương với 460 con trâu bò, 8.000 con heo, 65.000-70.000 con gia cầm. Nguồn heo hơi nhập về thành phố có nguồn gốc từ các tỉnh chiếm đến 88%, nguồn trâu bò hơi nhập hơn 95% từ các tỉnh, do đó khi dịch LMLM xảy ra trên phạm vi rộng đã gây áp lực rất lớn cho đàn gia súc của thành phố.
  • Công tác phòng chống dịch LMLM trong những năm qua trên địa bàn thành phố có một số thuận lợi: được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Nông Nghiệp và PTNT; các ban ngành, quận, huyện có sự phối hợp tốt trong công tác phòng chống dịch, ngành chăn nuôi thành phố phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá nên ý thức của người dân trong công tác phòng chống dịch khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn như sau: một số hộ chăn nuôi nhập cư ý thức công tác phòng chống dịch chưa cao, không chấp hành tiêm phòng và khai báo kiểm dịch, các hộ chăn nuôi bò sữa còn ngán ngại khi tiêm phòng trong giai đoạn bò sữa mang thai, tình hình giết mổ gia súc trái phép và kinh doanh sản phẩm động vật chưa qua kiểm soát của Ngành thú y mặc dù có giảm những vẫn còn xảy ra tại một số địa bàn.
  • Tình hình dịch cúm gia cầm trong thời gian qua vẫn ổn định, Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm thành phố đã xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp phòng chống dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm trên người trong đó tạm ngưng hoạt động chăn nuôi gia cầm trên địa bàn từ tháng 11/2005. Trong đó tập trung thực hiện các biện pháp giảm nhanh đàn gia cầm giảm nguồn cảm nhiễm, kiểm sóat chặt chẽ việc vận chuyển, giết mổ, kinh doanh và tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm. Sau khi dịch cúm gia cầm trong nước ổn định, từ tháng 5/2006 thành phố đã thẩm định và cho phép 2 cơ sở chăn nuôi gà có quy trình chăn nuôi kiểu chuồng kín, nằm xa khu vực dân cư được khôi phục chăn nuôi với quy mô đàn khỏang 75.000 con.

B. CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH LMLM

I. Các chủ trương về công tác phòng chống dịch LMLM của Thành phố

  • Chỉ Thị số 15/2005/CT-UBND, ngày 03/6/2005 về việc về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh LMLM gia súc.
  • Chỉ Thị số 19/2006/CT-UBND, ngày 30/5/2006 cề việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng chống dịch LMLM ở gia súc trên địa bàn thành phố.
  • Văn bản 396/UBND-CNN ngày 20/1/2006 của UBND thành phố về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh lở mồm long móng trên đàn gia súc.
  • Công văn số 579/SNN-NN ngày 08/5/2006 của Sở Nông nghiệp và PTNT gởi Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Chi cục thú y và Trung tâm nghiên cứu KHKT và khuyến nông khẩn trương tổ chức tuyên truyền và tăng cường ý thức phòng bệnh LMLM cho người chăn nuôi, thương nhân, doanh nghiệp giết mổ, kinh doanh gia súc về các biện pháp phòng, chống dịch.

II. Kết quả công tác phòng chống dịch LMLM

1. Công tác tiêm phòng

  • Từ năm 1997 đến nay, được sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố, Chi cục đã thực hiện biện pháp tiêm phòng miễn phí vắc-xin LMLM trên đàn trâu bò, hỗ trợ 50% đối với các hộ chăn nuôi heo và tiêm phòng miễn phí cho các hộ chăn nuôi heo thuộc diện xóa đói giảm nghèo. Khi Cục thú y cảnh báo phát hiện các týp virút LMLM mới xuất hiện tại các tỉnh trong khu vực từ năm 2005 thành phố đã chủ động sử dụng vắc-xin đa giá gồm 3 týp O, A và Asia1 tiêm phòng cho đàn trâu bò; vắc-xin O và A tiêm phòng cho đàn heo.
  • Chi cục đã triển khai công tác tiêm phòng bắt buộc nhất là trên trâu bò và đàn heo tại các quận, huyện ngay từ tháng 1/2006 nhằm chủ động trong công tác phòng chống dịch.
  • Trong thời gian qua do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, một số hộ chăn nuôi gia cầm đã chuyển đổi sang chăn nuôi heo, mặt khác do tình hình dịch bệnh các cơ sở chăn nuôi không xuất bán được con giống nên phải giữ lại để sản xuất thịt, bên cạnh đó do áp lực bệnh nhu cầu tiêm phòng vaccine trên đàn heo tăng mạnh. Mặc dù Chi cục thú y đã có chuẩn bị kế hoạch vaccine nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tiêm phòng của người chăn nuôi.
  • Các Trạm thú y quận, huyện đã xử lý nghiêm các hộ không chấp hành công tác tiêm phòng bắt buộc vắc – xin LMLM, đặc biệt đối với các hộ nhập cư, chăn nuôi tự phát không đảm bảo vệ sinh môi trường và không tiêm phòng cho gia súc.

2. Công tác kiểm dịch động vật

Tăng cường hoạt động kiểm tra tại 4 Trạm Kiểm dịch động vật đầu mối giao thông, các tuyến Quốc lộ, liên tỉnh lộ, các cửa ngõ đi vào thành phố; phối hợp với Đoàn liên ngành của Thành phố, Quận, huyện ngăn chặn và xử lý triệt để các đối tượng vận chuyển động vật, sản phẩm động vật trái phép, vận chuyển bằng phương tiện không chuyên dùng vi phạm Quyết định số 31/2005/QĐ-UB ngày 17/02/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố.

Nhằm quản lý chặt chẽ tình hình kiểm dịch động vật vận chuyển, từ 01/6/2005, Chi cục đã sử dụng Sổ Quản lý dịch tễ hộ chăn nuôi thay cho Giấy chứng nhận tiêm phòng, ngưng kinh doanh vựa gia súc. Kết quả từ đầu năm đến nay, Chi cục đã kiểm dịch xuất tỉnh số gia súc như sau:

  1. Số giấy CNKD : 368 tờ.
  2. Heo : 29.273 con.
  3. Bò : 260 con.
  4. Dê : 34 con.
  5. Chó mèo : 90 con.
  6. Ngựa : 08 con.
  7. (Phụ lục đính kèm)

3. Công tác kiểm soát giết mổ

  • Tăng cường kiểm tra lâm sàng chặt chẽ tại các cơ sở giết mổ, trong đó tập trung chú ý nguồn gia súc từ các tỉnh; tăng cường kiểm tra vệ sinh thú y tại các cơ sở chế biến, các chợ sỉ và lẻ, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
  • Yêu cầu các cơ sở giết mổ hạn chế tồn chuồng gia súc quá 48 giờ, thông báo tình hình dịch bệnh cho các hộ kinh doanh giết mổ để chọn lựa nguồn gia súc an toàn đưa về thành phố giết mổ, thực hiện tiêu độc sát trùng mỗi ngày trước và sau ca sản xuất.
  • Phối hợp chặt chẽ với các tỉnh trong việc cung cấp và phản hồi kịp thời thông tin dịch bệnh nhằm có biện pháp chủ động phòng chống. Đặc biệt qua việc theo dõi tình hình xử lý heo bệnh LMLM có nguồn gốc từ tỉnh Lâm Đồng tại các cơ sở giết mổ tăng đột biến đã phản ảnh kịp thời về Trung tâm thú y Vùng, Cục Thú y, Chi cục thú y tỉnh Lâm Đồng, kết quả Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã có quyết định công bố dịch.
  • Kết quả trong 7 tháng đầu năm 2006, Chi cục đã KSGM 12.955 con trâu bò, 1.560.034 con heo, 4.312 con dê, trong đó số động vật nhập từ các tỉnh là rất lớn, chiếm khoảng 88%, nguồn heo từ các tỉnh miền Tây chiếm 32% ; các tỉnh miền Đông chiếm 43% ; các tỉnh miền Trung 13% và các tỉnh phía Bắc 12%. Nguồn trâu bò từ miền Bắc chiếm 68%, miền Trung chiếm 14% và miền Nam chỉ chiếm 18%.

4. Công tác tuyên truyền, vận động

  • Chi cục chỉ đạo các Trạm thú y quận, huyện phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền mạnh, sâu rộng bằng nhiều hình thức, nội dung tuyên truyền đầy đủ các khâu từ chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ, đến kinh doanh, tiêu thụ SPĐV, đã phát hành 100.000 tờ rơi, 24 đĩa CD nhằm giúp mọi đối tượng liên quan hiểu, biết để thực hiện tốt yêu cầu Chỉ thị số 16/2006/CT-TTg. Phối hợp với Hội Nông dân tổ chức 25 buổi tuyên truyền, tập huấn về biện pháp phòng ngừa dịch bệnh cho 2.450 hộ chăn nuôi trâu bò, dê cừu và heo.
  • Các địa bàn có các hộ nhập cư chăn nuôi tự phát: Trạm thú y phối hợp với phòng Kinh tế; Ủy ban nhân dân địa phương có quy định rõ về điều kiện chăn nuôi, để góp phần đảm bảo an toàn dịch tễ cho đàn gia súc và môi trường sống cho nhân dân.

* Công tác xử lý gia súc bệnh LMLM tại thành phố:

Từ ngày 17/12/2005 đến ngày 18/06/2006, tại thành phố đã phát hiện và xử lý phát hiện và xử lý 640 gia súc (633 heo, 02 trâu và 05 bò sữa) bệnh LMLM chiếm tỷ lệ 0,2% tổng đàn heo của thành phố.

  • Huyện Bình Chánh: (3 hộ : 147 heo) xã Hưng Long, Vĩnh Lộc B, Bình Chánh.
  • Huyện Củ Chi: (10 hộ: 208 con heo và 02 trâu và 05 bò sữa) xã Tân Phú Trung, Tân Thạnh Tây, Phú Hòa Đông, Tân An Hội, Tân Thông Hội, Trung An, Tân Thạnh Đông, Bình Mỹ…
  • Huyện Nhà Bè: (6 hộ: 63 con heo) xã Phước Kiểng.
  • Quận Bình Tân: (9 hộ: 194 con heo) phường Bình Trị Đông A, phường Tân Tạo.
  • Quận 8: (1 hộ: 7 con heo) phường 15.
  • Quận 9: (2 hộ: 8 con heo) phường Tăng Nhơn Phú A, Phước Long B.
  • Quận Gò Vấp: (1 hộ: 6 con heo) phường 12.

Đa số các trường hợp xảy ra bệnh là do không thực hiện tiêm phòng bệnh LMLM (22/32 hộ), nên heo không có miễn dịch hoặc chưa được tiêm phòng lặp lại kịp thời, đầy đủ, nhất là đối với heo nái mang thai và heo cai sữa hoặc tiêm phòng không đúng quy trình kỹ thuật (10/32 hộ) do đó đáp ứng miễn dịch thấp nên không đủ bảo hộ chống bệnh LMLM trong khi việc thực hiện các biện pháp an toàn sinh học chưa được chú trọng; kiểm tra ngẫu nhiên 451 mẫu tại 12 xã của Bình Chánh tại thời điểm xảy ra bệnh tỷ lệ bảo hộ chỉ đạt 62,08%.

Một số hộ chăn nuôi nhập cư (Vĩnh Lộc B, Bình Trị Đông A…), thuê đất tư nhân, chăn nuôi tự phát không bảo đảm vệ sinh thú y và vệ sinh môi trường. Thức ăn được thu gom từ sản phẩm dư thừa của các nhà hàng, quán ăn trên địa bàn thành phố; nguồn gốc: heo địa phương (choai) nhập từ miền Trung, miền Bắc vào ban đêm, trốn tránh sự kiểm soát của UBND địa phương và Đoàn liên ngành, không hợp tác trong công tác vệ sinh phòng dịch, không khai báo bệnh, tự mua thuốc điều trị; mặc dù phòng Kinh tế và Ban chỉ đạo phòng chống dịch các phường, xã thường xuyên khuyến cáo, vận động.

Có trường hợp tại ấp 3, xã Bình Chánh, đầu tháng 12/2005, người chăn nuôi đã cho thương lái của cơ sở giết mổ tỉnh Long An và phương tiện vận chuyển vào tận chuồng để mua heo, trong lúc đó Long An đang có dịch LMLM.

* Công tác xử lý gia súc bệnh LMLM tại các cơ sở giết mổ

Từ đầu năm 2006 đến nay đã xử lý 474 con heo LMLM và 03 con trâu có nguồn gốc từ tỉnh Hà Tây, Nghệ An, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bình Thuận, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, 46 con heo tại TP. Hồ Chí Minh; 27 con heo không rõ nguồn gốc. Tại các Trạm KDĐV đầu mối giao thông đã phát hiện và xử lý 15 con heo bệnh LMLM nguồn gốc Tiền Giang và Đồng Nai.

* Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh

  • Chi cục đã chủ động xây dựng và báo cáo Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND Thành phố đồng ý đưa vào hoạt động hệ thống giám sát 783 người cung cấp thông tin dịch bệnh nhằm giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, khi phát hiện gia súc, gia cầm có triệu chứng bệnh được phát hiện và xử lý kịp thời.
  • Chi cục thành lập ba (03) tổ kiểm tra, Tổ I và Tổ III kiểm tra các hộ, CSCN tập trung chăn nuôi trâu, bò heo, dê cừu. Tổ II phụ trách kiểm tra tình hình chăn nuôi, dịch tễ tại Cty bò sữa An Phú, XN nhân giống bò sữa công nghệ cao Delta, CSCN heo Đồng Hiệp, Phước Long, Tân Trung, Gò Sao…
  • Đoàn kiểm tra liên ngành các quận, huyện Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Thạnh, Nhà Bè, Quận 9, Quận 12 đã kiểm tra phát hiện và xử lý 69 trường hợp giết mổ gia súc trái phép với số tang vật xử lý là 487 con heo sống, 56 mảnh heo bên, 3.904kg thịt heo và 5 con trâu bò.

5. Nhận xét- Đánh giá

Tình hình dịch LMLM đang diễn biến phức tạp, mức độ lây lan nhanh, rộng gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi của nhiều tỉnh thành trong cả nước. Nguyên nhân do việc xử lý gia súc bệnh không kịp thời và triệt để; người chăn nuôi lo sợ thiệt hại tài sản bán chạy gia súc trong vùng đang có dịch kể cả gia súc bệnh; công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ gia súc không được thực hiện nghiêm túc tại một số địa phương, công tác tiêm phòng bệnh LMLM bị hạn chế do thiếu kinh phí ở phần lớn các tỉnh thành. Trong khi đó Tp Hồ Chí Minh lại là nơi tiếp nhận từ 90-95% nguồn động vật, sản phẩm động vật từ các tỉnh đưa về do đó áp lực và nguy cơ xảy ra dịch, bệnh LMLM là rất cao, tuy nhiên mức độ và khả năng lây lan sẽ hạn chế hơn so các tỉnh do thành phố đã thực hiện các biện pháp phòng dịch chủ động từ nhiều năm qua.

6. Các biện pháp phòng chống dịch LMLM trong thời gian tới

  • Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh gia súc gia cầm các quận huyện phải xây dựng kế hoạch phòng chống dịch khẩn cấp, đặc biệt có kế hoạch dự trù vắcxin và kinh phí hỗ trợ cho công tác tiêm phòng, chống dịch, tiêu hủy gia súc bệnh, nơi xử lý…
  • Tổ chức tiêm phòng đợt II/2006 ngay từ đầu tháng 9/2006, rà soát tiêm phòng bổ sung thường xuyên theo lứa tuổi, tiêm phòng tại vùng có nguy cơ cao, những nơi gia súc có đáp ứng miễn dịch với bệnh LMLM chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.
  • Phối hợp các tỉnh trong việc cung cấp thông tin dịch bệnh, kiểm soát vận chuyển động vật và sản phẩm động vật ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
  • Tiếp tục tăng cường các biện pháp và tần suất tiêu độc khử trùng chuồng trại, cơ sở giết mổ, cơ sở chế biến, môi trường xung quanh để giảm mật độ virút lưu hành trong tự nhiên.
  • Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm trong việc quản lý tình hình chăn nuôi trên địa bàn, yêu cầu các hộ chăn nuôi phải đăng ký và cam kết thực hiện tiêm phòng và các biện pháp phòng chống dịch theo hướng dẫn của Ngành thú y. Xử lý xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp không chấp hành tiêm phòng và nêu rõ sẽ không hỗ trợ thiết hại nếu dịch bệnh xảy ra. Xử lý nghiêm các trường hợp chăn nuôi tự phát, không khai báo kiểm dịch, không đảm bảo điều kiện vệ sinh gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
  • Tăng cường trách nhiệm của hệ thống giám sát dịch bệnh đảm bảo hoạt động kiểm tra, giám sát kịp thời, hiệu quả đến tận hộ chăn nuôi gia đình, cơ sở chăn nuôi. Thực hiện phương châm “Phát hiện nhanh, xử lý gọn, khoanh vùng bao vây dập dịch” , việc tiêu hủy gia súc mắc bệnh tại hộ, cơ sở chăn nuôi thực hiện theo quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ Nông nghiệp.
  • Xúc tiến triển khai nhanh tiến độ xây dựng chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Tập trung thực hiện các biện pháp phòng chống dịch tại các vùng giáp ranh tại các tỉnh, các khu vực có khả năng bị ngập úng do triều cường.
  • Kiểm soát chặt chẽ việc kiểm dịch vận chuyển, giết mổ gia súc, kiểm tra việc lưu thông mua bán gia súc trên thị trường. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm việc giết mổ gia súc, kinh doanh sản phẩm gia súc trái phép.Tổ chức thu giữ, tiêu hủy gia súc mắc bệnh hoặc gia súc vận chuyển vào thành phố không có giấy chứng nhận kiểm dịch hợp lệ; chủ gia súc không được bồi thường và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính, chịu chi phí tiêu hủy.
  • Tiếp tục tăng cường thông tin tuyên truyền, nâng cao ý thức phòng bệnh LMLM và cúm gia cầm cho người chăn nuôi, thương nhân, doanh nghiệp giết mổ,kinh doanh gia súc kể cả người tiêu dùng sản phẩm gia súc. Thực hiện cam kết 5 không: không giấu dịch; không mua gia súc bệnh, sản phẩm gia súc bệnh; không bán chạy gia súc bệnh; không thả rông, không tự vận chuyển gia súc bệnh LMLM ra khỏi vùng dịch; không vứt xác gia súc nghi mắc bệnh LMLM bừa bãi.

B. CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH CÚM GIA CẦM

I. Kết quả công tác phòng chống dịch cúm gia cầmúc.

1. Công tác tuyên truyền vận động:

Đã có sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương các cấp cùng với các Sở ban ngành, đoàn thể: Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội LH phụ nữ, Đoàn thanh niên thực hiện công tác tuyên truyền, vận động với kết quả như sau:

  • Đã phát hành 520 cassette, đĩa CD tuyên truyền phòng chống dịch cúm gia cầm chuyển đến Ban chỉ đạo PCD CGC quận, huyện. Tổ chức tập huấn 984 buổi cho 69.078 người, phát hành 932.044 tờ bướm, treo 1.520 băng rôn, 13.614 áp phích, 248 pano. Nhiều quận, huyện đã tổ chức tuyên truyền bằng xe phóng thanh trên đường phố.
  • Đã triển khai lập cam kết với 9.822 quán ăn, nhà hàng bếp ăn tập thể đăng ký sử dụng nguồn thịt sạch, không sử dụng các sản phẩm gia cầm không rõ nguồn gốc.

2. Công tác quản lý các hộ chăn nuôi gia cầm

Trên địa bàn thành phố chỉ còn 2 hộ chăn nuôi có đủ điều kiện vệ sinh thú y được phép chăn nuôi gia cầm.

  • Hộ chăn nuôi gà bà Nguyễn Thị Lạc – Hóc Môn tính đến ngày 09/8/2006 đã xuất 57.574 con, đồng thời nhập thêm 21.000 con gà 01 ngày tuổi từ Đồng Nai. Hiện tổng đàn gà đang nuôi là 21.000 con.
  • Hộ của bà Trần Thị Quang – Củ Chi đã xuất hết số gà nuôi đợt 1: 9.647 con, đồng thời nhập nuôi mới 10.000 con, tổng đàn hiện nuôi là 10.000 con.

3. Công tác kiểm dịch xuất tỉnh

Chi cục đã thực hiện lấy mẫu giám sát huyết thanh đàn gà và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch xuất 67.221 con gà từ 2 hộ chăn nuôi nêu trên:

  • Cấp giấy KDĐV xuất tỉnh về Đồng Nai : 18.603 con
  • Cấp giấy KDĐV xuất tỉnh về Bình Thuận : 4.070 con
  • Cấp giấy KDĐV xuất tỉnh về Bình Dương : 14.328 con
  • Cấp giấy KDĐV xuất tỉnh về Long An : 2.620 con
  • Cấp giấy KDĐV nội tỉnh về Gò Vấp : 27.221 con

4. Công tác tiêu độc sát trùng, vệ sinh môi trường

Nhằm tiêu diệt mầm bệnh ngoài môi trường, Sở Tài nguyên Môi trường, các quận huyện đã phát động triển khai ngày chủ nhật xanh, đồng loạt các biện pháp vệ sinh tiêu độc sát trùng tại các cơ sở chăn nuôi, chợ, điểm kinh doanh gia cầm, nơi công cộng, trường học, ghe thuyền, lòng lề đường với tổng diện tích 1.417.250 m2.

Chi cục thú y thành phố đã triển khai thực hiện tháng hành động tiêu độc khử trùng làm sạch môi trường góp phần phòng chống dịch cúm gia cầm do Bộ Nông Nghiệp và PTNT phát động trong tháng 2/2006 và đang tiếp tục thực hiện đợt cao điểm trong tháng 6/2006 với tổng diện tích tiêu độc 2.495.837 m2.

5. Công tác kiểm sóat gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập về từ các tỉnh

3 cơ sở giết mổ gia cầm trên địa bàn thành phố hoạt động với công suất bình quân 42.000-45.000 con, với 23 thương hiệu sản phẩm được phép phân phố trên thị trường. Bên cạnh đó hàng ngày thành phố tiếp nhận 15.000-17.000 con gia cầm, thủy cầm giết mổ từ các tỉnh đưa về thành phố tiêu thụ với 23 thương hiệu đa số được cung cấp từ các tỉnh Long An, Bình Dương và Đồng Nai.

Nguồn gốc đàn gia cầm, thủy cầm nhập vào các cơ sở giết mổ: đàn gà nhập về thành phố giết mổ có nguồn gốc từ các tỉnh Miền Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ 92,50%, trong đó nguồn cung cấp chủ yếu từ Đồng Nai và Bình Dương, nguồn từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ 7,50%. Đàn vịt nhập về thành phố giết mổ có nguồn gốc từ các tỉnh Miền Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ 52,60%, trong đó nguồn chủ yếu nhập về từ tỉnh Tây Ninh, nguồn từ các tỉnh Miền Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ 47,40%, trong đó nguồn Long An chiếm tỷ lệ 42,16%. Đây là khu vực từng xảy ra dịch cúm gia cầm trong những năm trước đây, mầm bệnh vẫn còn lưu hành trên đàn chim hoang dã và đàn thủy cầm do đó tiềm ẩn nguy cơ tái phát dịch cúm gia cầm là rất cao.

Đoàn kiểm tra liên ngành gồm các lực lượng Công An, Quản lý Thị trường, Thanh Niên Xung Phong, Dân quân tự vệ thuộc các quận, huyện đội, Thú y tại các Trạm KDĐV đầu mối giao thông, các tuyến giao thông cữa ngõ ra vào thành phố giám sát, xử lý các trường hợp vận chuyển, kinh doanh, giết mổ gia cầm trái phép.

6. Kết quả giám sát dịch bệnh trên đàn gia cầm nhập về từ các tỉnh

Chi cục thú y đã phối hợp với Bệnh Viện Nhiệt Đới thực hiện khảo sát đánh giá tình hình lưu hành virus cúm trên đàn gia cầm nhập về từ các tỉnh, kết quả xét nghiệm 180 mẫu huyết thanh và mẫu Swab trực tràng, Swab khí quản đều cho kết quả âm tính.

Thực hiện lấy mẫu xét nghiệm giám sát virus cúm gia cầm trên đàn chim hoang dã, đã phát hiện và xử lý 499 con chim kiểng tại Khu du lịch Suối Tiên có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với virus cúm gia cầm.

Chi cục thú y đã lấy mẫu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vaccine cúm gia cầm trên đàn gia cầm nhập về từ các tỉnh, kết quả ghi nhận như sau: Trên đàn gà: có 155/455 mẫu xét nghiệm phát hiện có kháng thể do đàn gà được tiêm phòng vaccine cúm gia cầm, chiếm tỷ lệ 34,07%. Tuy nhiên chỉ có 109/455 mẫu xét nghiệm có hàm lượng kháng thể đủ khả năng bảo hộ virus cúm gia cầm, chiếm tỷ lệ 23,96%, đặc biệt đàn gà nhập về từ các tỉnh Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Long An, Vĩnh Long, Vũng Tàu đều không có khả năng bảo hộ. Trên đàn vịt: có 155/339 mẫu xét nghiệm phát hiện có kháng thể do đàn gà được tiêm phòng vaccine cúm gia cầm, chiếm tỷ lệ 32,16%. Tuy nhiên chỉ có 64/339 mẫu xét nghiệm có hàm lượng kháng thể đủ khả năng bảo hộ virus cúm gia cầm, chiếm tỷ lệ 18,88%, trong đó nguồn vịt từ các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ không đủ khả năng bảo hộ, riêng nguồn Long An và Đồng Tháp khả năng bảo hộ rất thấp.

Điều này cảnh báo nguy cơ tái phát dịch cúm gia cầm tại các tỉnh trong khu vực là rất cao, khi mầm bệnh vẫn còn tồn tại trên đàn thủy cầm và đàn chim hoang dã, trong khi đàn gia cầm, thủy cầm mặc dù đã được tiêm phòng nhưng hiệu giá kháng thể không đủ sức bảo hộ.

7. Một số công tác khác:

Đến nay, thành phố có 135 vựa trứng, trong đó 73/73 vựa trứng cấp I trực tiếp đăng ký tiếp nhận nguồn trứng gia cầm từ các tỉnh có trang bị thiết bị xông hơi, tiêu độc sát trùng bề mặt võ trứng, 62 vựa cấp II chỉ được phép nhập trứng từ các vựa cấp I sau khi đã thực hiện tiêu độc khử trùng; trứng được xuất tiêu thụ trên thị trường đều được đóng gói, bao bì có thương hiệu cơ sở.

Thực hiện Quyết định số 3535/QĐ/BNN-CB ngày 16/12/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Ban hành Quy định tạm thời về quản lý thu mua giết mổ, bảo quản, chế biến, kinh doanh thịt, trứng gia cầm, đến nay thành phố đã có 47/47 cửa hàng chuyên kinh doanh sản phẩm gia cầm, 788/898 tủ bảo ôn (87,75% số hộ kinh doanh sản phẩm gia cầm) tại các quầy sạp kinh doanh sản phẩm gia cầm tại các chợ. Các hộ kinh doanh còn lại đang chờ vay vốn để trang bị tủ bảo ôn.

Thành phố đã có chính sách hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi gia cầm chuyển đổi ngành nghề với nhiều hình thức như cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu các mô hình chăn nuôi thỏ, nuôi ếch, nuôi bò sữa, nuôi heo, nuôi dê .. để người dân có điều kiện chuyển đổi. Trước khi dịch cúm gia cầm xảy ra thành phố có khoảng 12.000 hộ chăn nuôi gia cầm với tổng đàn trên 5 triệu con gia cầm các loại. Tính đến thời điểm hiện nay thành phố có 15.235 hộ chăn nuôi heo với tổng đàn 366.668 con (tăng 2.636 hộ) và 18.939 hộ chăn nuôi bò với tổng đàn 100.379 con (tăng 3.703 hộ) so với trước khi dịch cúm gia cầm xảy ra. Phát triển đàn thỏ với 327 hộ chăn nuôi với tổng đàn 22.630 con.

II. Nhận xét- Đánh giá

Trong giai đoạn cao điểm phòng chống dịch cúm gia cầm đã có sự chỉ đạo xuyên suốt và chặt chẽ từ Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm và đaị dịch cúm (H5N1) trên người từ cấp thành phố đến các quận, huyện, sở ngành. Thành phố đã huy động cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện công tác phòng chống dịch một cách có hiệu quả. Trong 8 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn thành phố không xảy ra trường hợp dương tính và tử vong do virus cúm gia cầm.

Tình hình dịch cúm gia cầm đã tái phát tại các nước trong khu vực, quy luật tái phát dịch phù hợp với tình hình dịch tễ các năm qua. Hiện nay nguy cơ tái phát dịch cúm gia cầm tại các tỉnh trong khu vực rất cao do việc quản lý đàn, tổ chức tiêm phòng vaccine cúm chưa chặt chẽ và không đúng quy trình, công tác quản lý đàn và thực hiện thủ tục kiểm dịch xuất đàn gia cầm chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật.

Do đó trong thời gian tới đề nghị các ngành các cấp cần tăng cường các biện pháp phòng chống dịch, chuẩn bị đầy đủ nhân lực, phương tiện đối phó khi dịch bệnh tái phát người chăn nuôi tại các tỉnh sẽ bán chạy đàn gia cầm về các cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố, yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh cần được đề cao.

III. Các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm trong thời gian tới

Thực hiện chỉ đạo của Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Nông Nghiệp và PTNT, CỤc Thú y, Ban chỉ đạo thực hiện kế họach hành động khẩn cấp phòng chống dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm trên người thành phố Hồ Chí Minh đề xuất mực tiêu và một số biện pháp phòng chống dịch trong thời gian tới như sau:

1. Mục tiêu

Khẩu hiệu hành động chung:

  • Không để xảy ra dịch cúm trên đàn gia cầm từ đó không xảy ra dịch cúm trên người.
  • Nếu dịch có xảy ra thì phát hiện nhanh, tiêu diệt gọn, hạn chế dịch trong một khu vực, không để dịch phát tán trên diện rộng.

Cụ thể hoá trách nhiệm:

  • Nơi nào để xảy ra dịch cúm gia cầm thì người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cán bộ thú y phụ trách địa bàn phải chụi trách nhiệm.
  • Nơi nào để xảy ra dịch cúm A (H5N1) thì người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và thủ trưởng cơ quan y tế phụ trách địa bàn phải chịu trách nhiệm.

2. Các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm

*. Tiếp tục rà soát, kiểm tra tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn thành phố

Thành phố tiếp tục duy trì biện pháp ngưng nuôi gia cầm đến tháng 02/2007 theo đúng kế hoạch đã được Bộ Nông Nghiệp và PTNT phê duyệt. Các ngành các cấp tăng cường vận động tuyên truyền, xử lý nghiêm các trường hợp tái chăn nuôi gia cầm, thủy cầm.

Tiếp tục giám sát đối với các hộ chăn nuôi gia cầm đã được cấp phép tái chăn nuôi. Yêu cầu cách ly đàn đà điểu, chim hoang dã, chim kiểng tại các khu du lịch, thường xuyên tiêu độc sát trùng nhằm bảo đảm tốt các điều kiện an toàn sinh học.

Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các quận, huyện duy trì chế độ sinh họat định kỳ hàng tuần nhằm kiểm tra, đôn đốc các ngành các cấp thực hiện các chỉ đạo của thành phố và báo cáo kết quả cho Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm và đại dịch cúm (H5N1) thành phố.

*. Tăng cường việc kiểm soát nguồn gia cầm, sản phẩm gia cầm từ các tỉnh nhập về thành phố.

Tiếp tục bố trí lực lượng tại cửa ngõ đường bộ, kiểm tra cơ động trên các trục lộ giao thông nhằm kiểm soát nghiêm ngặt và phát hiện xử lý các trường hợp vi phạm. Tăng cường kiểm soát việc vận chuyển gia cầm trên tuyến đường thủy và rà soát các điểm buôn bán gia cầm sống phát sinh qua vận chuyển bằng đường thủy. Xử lý kiên quyết các điểm kinh doanh gia cầm sống.

UBND các quận huyện tiếp tục đẩy mạnh kiểm tra tình hình thực hiện cam kết, đăng ký địa chỉ mua sản phẩm gia cầm tại các nhà hàng, quán ăn, cơ sở chế biến, cửa hàng kinh doanh sản phẩm gia cầm. Kết hợp khuyến cáo dán bản cam kết sử dụng nguồn gia cầm sạch có địa chỉ rõ ràng ở nơi người tiêu dùng tại nơi dễ nhìn thấy nhất, giúp người tiêu dùng yên tâm trong sử dụng sản phẩm.

3. Công tác tuyên truyền

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về phòng chống dịch cúm gia cầm, thông tin kịp thời, chính xác về tình hình dịch, nguy cơ tái phát dịch và các biện pháp phòng chống dịch. Hướng dẫn người chăn nuôi các biện pháp chăn nuôi an toàn, các dấu hiệu để phát hiện dịch, các biện pháp an toàn khi tiếp xúc với gia cầm để người dân chủ động khai báo dịch, tự bảo vệ ban thân, bảo vệ cộng đồng.

Ngành Y Tế tập trung huấn luyện cho các đội cơ động điều trị và lực lượng trực tiếp chăm sóc và điều trị bệnh nhân nhiễm cúm. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên mọi phương tiện, cập nhật các thông tin về cúm gia cầm trên trang web của Sở Y Tế để người dân tham khảo, duy trì giải đáp các thông tin liên quan phòng chống dịch cúm đường dây nóng.

Ngành Y Tế chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Đài Truyền hình thành phố tổ chức xây dựng nội dung tuyên truyền trên Đài Truyền hình 2 lần/ tuần và thực hiện Spot/ít nhất 2 lần trong ngày, viết bài tuyên truyền về các biện pháp phòng ngừa bệnh cúm gia cầm cho người, tuyên truyền sử dụng sản phẩm gia cầm an toàn, hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa, các triệu chứng nghi ngờ bệnh cúm gia cầm, giới thiệu các tuyến bệnh viện chuyên trách theo dõi, điều trị bệnh viêm nhiễm hô hấp cấp. Duy trì tuyên truyền cho đến hết tháng 02/2007. Cung cấp nội dung tuyên truyền cho các quận, huyện để tổ chức phổ biến, sinh hoạt trong nhân dân.

D. KIẾN NGHỊ:

I. Bộ Nông nghiệp và PTNT

Xây dựng Chương trình hành động có tính khả thi cao để phòng, chống dịch bệnh LMLM trong giai đoạn 2006-2010:

Chỉ đạo các ngành có liên quan đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để chủ động sản xuất vắcxin LMLM trong nước phù hợp týp virút của Việt Nam.

Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp chính quyền có trách nhiệm triển khai thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông Nghiệp và PTNT trong đó tập trung giải quyết các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư các dây chuyền giết mổ hiện đại; các nhà máy xử lý, chế biến trứng.Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo quy trình khép kín, có sự kiểm soát chặt chẽ từ khâu chăn nuôi, giết mổ, chế biến, có tổ chức hệ thống phân phối nhằm cung cấp sản phẩm gia cầm an toàn cho thị trường; đồng thời chủ động trong việc giết mổ, bảo quản nguồn sản phẩm gia cầm an toàn khi dịch bệnh tái phát, hạn chế tổn thất về kinh tế cho người chăn nuôi do không tiêu thụ được sản phẩm.

Cho phép thành phố được vận dụng Quyết định số 47/QĐ-BNN trong đó có quy định việc vận chuyển gia súc, gia cầm với số lượng nhỏ ra khỏi huyện không phải khai báo kiểm dịch và Quyết định số 49/QĐ-BNN quy định hình thức bấm số tai trên động vật xuất tỉnh phù hợp với tình hình thực tiển tại thành phố cho đến khi bệnh LMLM và Cúm gia cầm tạm ổn định.

II. Cục Thú y

Thường xuyên phân lập týp, subtýp virut để chọn vắc – xin tương thích cho từng vùng đã và đang có dịch.

Cục Thú y chỉ đạo và có biện pháp phối hợp với các ban ngành chức năng tăng cường công tác kiểm dịch động vật vận chuyển tại các Trạm KDĐV quốc gia dọc các tuyến biên giới và quốc lộ nhằm kiểm tra, xử lý các trường hợp vận chuyển động vật, sản phẩm động vật trái phép.

Tham mưu Bộ Nông Nghiệp và PTNT ban hành hệ thống các tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi, giết mổ, kiểm tra sản phẩm gia cầm nhằm đảm bảo việc triển khai thực hiện một cách đồng bộ giữa các địa phương.

cá chìa vôi

Cá chìa vôi: Sự đảo ngược giới tính trong sinh sản đóng góp vào khả năng miễn dịch của cá con

Các nhà khoa học Đức tại Trung tâm Nghiên cứu Đại dương Helmholtz ở Kiel đã phát hiện ra rằng, cả cả chìa vôi bố và mẹ đều đóng góp vào khả năng miễn dịch của cá con, không giống như ở người.

Sự đảo ngược giới tính trong sinh sản ở cá chìa vôi

Vai trò giới tính của cá chìa vôi trong sinh sản bị đảo lộn, giống như cá ngựa, cùng họ hàng với chúng. Cá cái chuyển trứng vào túi ấp của các con đực.

cá chìa vôi

Với tiền đề này, các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Đại dương Helmholtz đã xem xét vai trò của cả cá bố và cá mẹ trong sự miễn dịch của cá chìa vôi con.

Sử dụng vi khuẩn chết đã được tiếp xúc với cả cáchìa vôi đực và cái, họ thấy rằng cả cá bố và cá mẹ đều đóng góp các kháng thể cho cá con. Giống như các loài cá khác, cá mẹ truyền kháng thể thông qua những quả trứng trong khi cá bố đóng góp thông qua cấu trúc như nhau thai trong túi ấp của chúng. Túi ấp làm việc giống như nhau thai ở người, truyền các kháng thể cho bào thai chưa sinh.

Theo Anna Beemelmanns, thành viên của nhóm các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Đại dương Helmholtz các kết quả này làm tiền lệ cho một chứng minh thú vị, ngay cả đối với con người. Nó cũng có thể đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về biểu sinh – nghiên cứu về thay đổi di truyền trong biểu hiện gen được gây ra bởi những thay đổi khác trong chuỗi ADN cơ bản.

Nó cho thấy rằng các yếu tố biểu sinh cũng có thể được thừa kế khác nhau thông qua người cha, Beemelmanns cho biết.

Vì vậy, mặc dù tinh trùng của con người không mang kháng thể, có khả năng là người cha có thể đóng một vai trò lớn hơn, cô nói thêm. Và nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Đại dương Helmholtz có thể giúp mở đường cho sự hiểu biết tốt hơn vai trò của nam giới trong khả năng miễn dịch của trẻ.

xét nghiệm thú y

Cách đọc các kết quả xét nghiệm thú y cho chó mèo

Một số lượng các kết quả xét nghiệm đã được sử dụng để xác định tình trạng sức khỏe tốt hay báo hiệu sự nhiễm bệnh hay tình trạng bệnh. Sau đây là các test chủ yếu và một số thuật ngữ phổ biến sử dụng trong phòng thí nghiệm. Một sự phân tích máu đầy đủ [A Complete Blood Count] chỉ định được số lượng và loại của các tế bào trong máu chó. Test tiêu chuẩn này có thể phát hiện tình trạng thiếu máu và bệnh ung thư bạch cầu [to identify anemia and leukemia], cũng như phát hiện các trường hợp nhiễm trùng. Một bảng tổng hợp phân tích thành phần hóa học huyết thanh [A Serum Chemistry Profile] bao gồm nhiều test khảo sát chức năng của các cơ quan [to examine the functioning of organs], như gan và tuyến giáp [thyroid], và các test này sẽ cho thấy một sự bất thường nào đó của cơ quan nội tạng.

RBC (= Red Blood Cells – Các tế bào hồng cầu)

RBC có nhiệm vụ vận chuyển O2 và CO2 khắp cơ thể. Thiếu chất sắt [Iron deficiency] sẽ làm giảm số lượng hồng cầu.

Trong tình trạng số lượng hồng cầu giảm nhiều hơn [In more reduced count], có thể do xuất huyết, các loại ký sinh trùng, bệnh tủy xương [bone marrow disease], thiếu B-12, thiếu acid folic hay thiếu chất Cu..

RBC có đời sống kéo dài 120 ngày; do vậy, một tình trạng thiếu máu có nguyên nhân khác hơn xuất huyết, thường là một biểu hiện tình trạng giảm hồng cầu trong thời gian dài.

HTC (= Hematocrit or Packed Cell Volume [PCV] – Xét nghiêm đo lắng máu hay khối lượng hồng cầu kết tủa)

HCT cung cấp thông tin về số lượng hồng cầu hiện diện trong máu.

Tỷ lệ này thấp chứng tỏ thiếu máu do xuất huyết, các ký sinh trùng, các bệnh thiếu dinh dưỡng [nutritional deficiencies] hay quá trình bệnh mạn tính [chronic disease process], như bệnh gan, ung thư…

HCT tăng thường gặp khi thú mất nước.

xét nghiệm máu cho chó mèo

Hb (= Hemoglobin – Huyết cầu tố)

Hb là chất mang O2 chủ yếu của máu.

Hàm lượng Hb thấp chứng tỏ có sự xuất huyết, thiếu máu, thiếu chất sắt.

Hàm lượng Hb tăng chứng tỏ HHC tập trung cao hơn bình thường, thiếu B-12 (do số lượng HHC ít hơn).

Reticulocytes (= Hồng cầu lưới, các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành)

Số lượng giảm [Decreased count] thường kết hợp với thiếu máu.

Số lượng tăng thường kết hợp với tình trạng xuất huyết mạn tính hay thiếu máu tiêu hồng cầu. [hemolytic anemia].

PLT (= Platelets – Tiểu cầu)

Tiểu cầu đóng một vai trò quan trọng trong đông máu.

Số lượng giảm xảy ra trong chứng suy tủy xương [bone marrow depression], thiếu máu tiêu hồng cầu tự miễn [autoimmune hemolytic anemia], ngoại ban toàn thân [systemic lupus], xuất huyết nặng [severe hemorrhage], đông máu nội mạch [intravascular coagulation].

Số lượng tăng có thể xảy ra trong trường hợp gảy xương [fracture] hay tổn thương mạch máu [blood vessel injury], hay ung thư.

MCV (= Measurement of the average size of the RBC – Đánh giá kích thước bình quân của hồng cầu)

Khối lượng tăng [Elevated volumes] có thể do thiếu B-12 acid folic [B-12 folic acid deficiency].

Khối lượng giảm [Reduced volumes] có thể do một tình trạng thiếu chất sắt [an iron deficiency].

WBC (= White blood cells – Bạch huyết cầu)

Bạch huyết cầu chủ yếu bảo vệ cơ thể chống sự nhiễm trùng.

Mức độ WBC giảm [Decreased levels] có thể chứng tỏ một tình trạng nhiễm trùng vượt quá mức kháng cự của cơ thể [an overwhelming infection] như trường hợp nhiễm virus, hay ngộ độc thuốc / hóa chất [drug / chemical poisoning].

Mức độ WBC tăng chứng tỏ nhiễm vi khuẩn [bacterial infection], các tình trạng rối loạn cảm xúc [emotional upsets] và các bệnh gây rối loạn máu [blood disorders].

L/M (= Lymphocytes – Lymphô bào, bạch cầu lymphô)

Số lượng tăng trong bệnh mạn tính [chronic infection], bệnh nhiễm trùng cấp trong thời kỳ phục hồi [recovery from acute infection] hay các hạch có chức năng kém [underactive glands].

Số lượng giảm trong trường hợp thú bị stress, hay khi điều trị với steroid và hóa trị liệu [chemotherapy drug].

Ca (= Calcium – Hàm lượng Ca trong máu bị ảnh hưởng bởi khẩu phần [diet], nồng độ hormone [hormone levels], và hàm lượng prôtêin trong máu [blood protein levels])

Hàm lượng Ca giảm chứng tỏ tuyến tụy bị tổn thương cấp tính [acute damage to the pancreas] hay tuyến cận giáp hoạt động kém [underactive parathyroid]; và có thể gây các cơ co giật [muscle twitches].

Hàm lượng Ca tăng có thể là một dấu hiệu [an indicator] của một vài loại khối u [types of tumours], bệnh cận giáp hay bệnh thận [parathyroid or kidney disease].

Theo Dr. Goldstein trong tác phẩm ‘Nature of Animal Healing’ của ông, hàm lượng Ca giảm có thể chứng tỏ tình trạng thiếu enzym của tuyến tụy [deficiency of pancreatic enzymes]; và hàm lượng Ca tăng có thể chứng tỏ sự chuyển hóa chất béo và prôtêin kém [poor metabolism of fats and protein].

PHOS (= Phosphorus – Hàm lượng P trong máu bị ảnh hưởng bởi khẩu phần [diet], hormon cận giáp [parathormone], và thận)

Hàm lượng P giảm biểu hiện tuyến cận giáp hoạt động quá mức [overactive parathyroid gland] và các khối u ác tính [malignancies], tình trạng thiếu dinh dưỡng [malnutrition] và chứng kém hấp thu [malabsorption].

Hàm lượng P tăng biểu hiện tuyến cận giáp hoạt động kém [underactive parathyroid gland] và suy thận [kidney failure].

Electrolytes (= Sodium, Potassium, Chloride – Các chất điện giải như natri, kali, clorua)

Sự cân bằng của các hóa chất này rất cần thiết cho sức khỏe [to be vital to health]; và các hàm lượng bất thường [abnormal levels] có thể đe dọa đến tính mạng [to be life threatening] của thú.

Các test về chất điện giải là các xét nghiệm quan trọng nhằm đánh giá tình trạng nôn mửa, tiêu chảy và các triệu chứng bệnh tim [cardiac symptoms].

CHOL (= Cholesterol )

Hàm lượng CHOL giảm thường gặp trong trường hợp tuyến giáp hoạt động quá mức [overactive thyroid gland], sự kém hấp thu dinh dưỡng ở ruột [intestinal malabsorption].

Hàm lượng CHOL tăng được tìm thấy trong nhiều trường hợp rối loạn bao gồm chứng giảm chức năng tuyến giáp [hypothyroidism] và các bệnh về gan, thận, tim mạch, bệnh tiểu tháo đường [diabetes], stress.

ALT (= Alanine aminotransferase ) là một loại enzym có hàm lượng cao trong bệnh gan [liver disease]

xét nghiệm thú y

ALKP (= Alkaline Phosphatase ) là một loại enzyme tạo bỡi ống mật trong gan [the biliary tract (liver)]

Hàm lượng ALKP cao biểu hiện bệnh xương [bone disease], bệnh gan hay tình trạng tắt nghẽn tiết mật [bile flow blockage].

TBIL (= Total Bilirubin – Tổng sắc tố mật ) là một thành phần của mật; sắc tố mật được tiết từ gan vào ống tiêu hóa [intestinal tract]

Hàm lượng TBIL cao có thể dẫn đến bệnh hoàng đản [jaundice] và chứng tỏ có sự hủy hoại trong gan và ống mật [destruction in the liver and bile duct].

TP (= Total Protein – Tổng protein )

Hàm lượng TP tăng chứng tỏ tình trạng mất nước [dehydration] hay ung thư máu [blood cancer], ung thư tủy xương [bone marrow cancer].

Hàm lượng TP giảm chứng tỏ tình trạng thiếu dinh dưỡng [malnutrition] tiêu hóa kém [poor digestion], bệnh gan hay bệnh thận, trường hợp mất máu hay bị phỏng [bleeding or burns].

GLOB (= Globulins )

Hàm lượng GLOB giảm cho thấy có vấn đề về kháng thể, các virus gây suy yếu miễn dịch [immunodeficiency viruses] hay nguy cơ bệnh nhiễm trùng [risk of infectious disease].
Hàm lượng GLOB tăng có thể chứng tỏ tình trạng stress, mất nước hay ung thư máu, dị ứng [allergies], bệnh gan, bệnh tim, viêm khớp [arthritis], bệnh đái tháo đường.

ALB (= Albumin ) được sản xuất bởi gan

Hàm lượng ALB giảm có thể do bệnh gan hay thận mạn tính [chronic liver or kidney disease], hay do nhiễm ký sinh trùng như giun móc [parasitic infections such as hookworm].

Hàm lượng ALB tăng chứng tỏ tình trạng mất nước hay mất prôtêin [dehydration and loss of protein].

BUN (= Blood Urea Nitrogen ) được sản xuất bởi gan và được bài tiết bởi thận

Hàm lượng BUN giảm gặp trong trường hợp các khẩu phần kém prôtêin [low protein diets], chức năng gan hoạt động kém [liver insufficiency], và sự sử dụng thuốc steroid đồng hoá [anabolic steroid drug].

Hàm lượng BUN tăng chứng tỏ tình trạng giảm khả năng lọc các dịch thể của thận hay cản trở sự phân hủy prôtêin [ protein breakdown].

CREA (= Creatinine ) là một sản phẩm phụ của biến dưỡng cơ và được bài tiết bởi thận

Hàm lượng cao có thể chứng tỏ bệnh thận hay tình trạng tắc nghẽn đường tiểu [urinary obstruction], bệnh cơ, viêm khớp, chứng cường giáp [Hyperthyroidism] và chứng đái tháo đường [diabetes].

Tình trạng hàm lượng BUN tăng và CREA bình thường chứng tỏ tình trạng bệnh mới bắt đầu hay bệnh nhẹ.

Tình trạng hàm lượng BUN tăng và CREA tăng với hàm lượng Phốt-pho cao chứng tỏ tình trạng thận đã bị bệnh lâu dài [a long standing kidney disease].

GLU (= Blood Glucose )

Hàm lượng cao có thể giúp chẩn đoán bệnh đái tháo đường và có thể chứng tỏ tình trạng stress, kích thích tố Progesterone dư thừa [excess of hormone progesterone], và tình trạng tuyến thượng thận hoạt động quá mức [overactive adrenal gland].

Hàm lượng thấp có thể chứng tỏ bệnh gan, các khối u hay tuyến tụy tăng trưởng bất thường, và một tình trạng tuyến thượng thận hoạt động kém [an underactive adrenal gland].

AMYL (= Amylase )

Tuyến tụy sản xuất và tiết amylase giúp sự tiêu hoá.

Hàm lượng cao trong máu có chứng tỏ bệnh tuyến tụy và/hay bệnh thận.

Phân tích nước tiểu [Urinalysis]

  • Màu sắc: Bình thường có màu vàng đến màu cánh dán. Màu đỏ là do có máu, màu vàng đậm đến màu vàng nâu là do có bilirubin; màu nâu đỏ nhạt là do huyết sắc tố [hemoglobin] hay sắc tố cơ [myoglobin].
  • Độ trong suốt: Bình thường nước tiểu trong suốt. Nước tiểu vẩn đục là do các vật thể trong suốt [crystals], các tế bào, máu, chất nhày, vi trùng hay chất loại thải [cast].
  • Tỷ trọng: Tỷ trọng từ 1.007-1.029 tìm thấy trong bệnh đái tháo đường [diabetes mellitus], bệnh đái tháo nhạt [nước tiểu loãng và nhiều – insipidus],.tuyến thượng thận hoạt động quá mức [overactive adrenals], thú quá khát [excessive thirst] và viêm mủ tử cung [pyometra]. Tỷ trọng trên 1.040 tìm thấy khi thú sốt cao, mất nước, đái tháo đường [diabetes mellitus], nôn mửa, tiêu chảy và xuất huyết nặng.
  • Độ pH: Bình thường từ 6.2 – 6.5 hơi nghiêng về acid

GHI CHÚ

  1. Khi bạn làm xét nghiệm máu, bạn phải chắc rằng con thú của bạn đã được cho nhịn ăn ít nhất là 12 giờ trước khi làm các xét nghiệm.
  2. Có một vài khác biệt về thành phần hóa học trong kết quả xét nghiệm giữa các giống.
  3. Bạn nên thiết lập một số chỉ tiêu bình thường về con thú của bạn. Vì cơ thể của từng thú cũng có sự khác biệt; nên sự bất thường trong kết quả xét nghiệm cũng có thể là bình thường đối với con thú của bạn.
cửa hàng thực phẩm VISSAN

Danh sách chuỗi cửa hàng thực phẩm VISSAN

Danh sách chuỗi cửa hàng thực phẩm VISSAN

STT QUẬN
HUYỆN
TÊN CỬA HÀNG ĐỊA CHỈ ĐIỆN THOẠI
1 Quận 1 VISSAN – Lê Thánh Tôn 251 Lê Thánh Tôn, P. Bến Thành, Q. 1 (08) 38.296.123
2 Quận 1 VISSAN – 40 Nguyễn Thái Học 40 Nguyễn Thái Học, Q.1 (08) 38.212.110
3 Quận 1 VISSAN – Phan Chu Trinh 21 Phan Chu Trinh, P. Bến Thành, Q.1 (08) 38.228.109
4 Quận 1 VISSAN – Tôn Thất Đạm 84 Tôn Thất Đạm, P. Bến Nghé, Q.1 (08) 39.143.136
5 Quận 2 VISSAN – Nguyễn Thị Định 368 NguyễnThị Định, Q.2 (08) 37.423.234
6 Quận 2 VISSAN – Đường số 3 Số 57 Đường số 3, Phường Bình An, Q.2 (08) 37.407.386
7 Quận 2 VISSAN – Thạnh Mỹ Lợi Lô A4 Khu Dân Cư, P. Thạnh Mỹ Lợi, Q.2 (08) 62.811.921
8 Quận 2 VISSAN – Nguyễn Duy Trinh 586 Nguyễn Duy Trinh, Q.2 (08) 37.438.606
9 Quận 3 VISSAN – Nguyễn Văn Trỗi 10 Chợ Nguyễn Văn Trỗi, P. 13, Q.3 (08) 39.312.192
10 Quận 4 VISSAN – 19 Lê Thạch Số 19 Lê Thạch, Phường 12, Q.4 (08) 39.400.731
11 Quận 4 VISSAN – Vĩnh Hội 51 Vĩnh Hội, Phường 4, Q.4 (08) 39.406.980
12 Quận 4 VISSAN – 23 Lê Thạch Số 23 Lê Thạch, Phường 12, Q.4 (08) 38.259.585
13 Quận 5 VISSAN – Nguyễn Trãi Số 342 Nguyễn Trãi, Phường 8, Q.5 (08) 38.369.030
14 Quận 5 VISSAN – Hải Thượng Lãn Ông 179 Hải Thượng Lãn Ông, P. 13, Q.5 (08) 38.555.347
15 Quận 6 VISSAN – Hậu Giang Số 610A Hậu Giang, Phường 12, Q.6 (08) 38.756.311
16 Quận 6 VISSAN – Cư Xá Phú Lâm D 2J/1 Cư Xá Phú Lâm D, P.10, Q.6 (08) 22.129.349
17 Quận 6 VISSAN – Chợ Phú Lâm Khu Phố 70, Chợ Phú Lâm, P.13, Q.6 (08) 38.172.532
18 Quận 6 VISSAN – Hồng Bàng Số 645 Hồng Bàng, Phường 6, Q.6 (08) 39.605.926
19 Quận 6 VISSAN – Tháp Mười Số 146 Tháp Mười, Phường 2, Q.6 (08) 39.605.655
20 Quận 7 VISSAN – Nguyễn Lương Bằng Lô S14, Nguyễn Lương Bằng, Q.7 (08) 54.170.730
21 Quận 7 VISSAN – Lâm Văn Bền 63 Lâm Văn Bền, P.Tân Thuận Tây, Q.7 (08) 38.723.386
22 Quận 7 VISSAN – Huỳnh Tấn Phát 1240 Huỳnh Tấn Phát, P. Tân Phú, Q.7 (08) 37.851.849
23 Quận 7 VISSAN – Đường số 15 86 Đường số 15, P. Tân Kiểng, Q.7 (08) 22.123.642
24 Quận 7 VISSAN – Đường số 1 52 Đường số 1, P. Tân Phú, Q. 7 (08) 54.332.889
25 Quận 8 VISSAN – Đinh Hòa 42 Đinh Hòa, Phường 13, Quận 8 (08) 38.555.269
26 Quận 8 VISSAN – Nguyễn Thị Tần 16G’ Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8 (08) 62.608.945
27 Quận 9 VISSAN – Đỗ Xuân Hợp 42 Đỗ Xuân Hợp, P. Phước Long A, Q. 9 (08) 37.314.247
28 Quận 9 VISSAN – Lê Văn Việt 344Lê Văn Việt, P.Tăng Nhơn Phú B, Q.9 (08) 37.361.408
29 Quận 10 VISSAN – Nguyễn Chí Thanh 322 Nguyễn Chí Thanh, P.15, Q.10 (08) 39.571.239
30 Quận 11 VISSAN – Lạc Long Quân 506/2 Lạc Long Quân, P.5, Q.11 (08) 39.756.812
31 Quận 11 VISSAN – Ông Ích Khiêm 42 Ông Ích Khiêm, Phường 14, Quận 11 (08) 62.642.265
32 Quận 11 VISSAN – Ba Tháng Hai 972- 974 Ba Tháng Hai, P. 12, Q.11 (08) 39.623.993
33 Quận 11 VISSAN -Tân Phước 468 Tân Phước, Phường 6, Quận 11 (08) 39.560.623
34 Quận 12 VISSAN – Nguyễn Ảnh Thủ 36A/1 Nguyễn Ảnh Thủ, Q.12 (08) 35.977.559
35 Quận 12 VISSAN – Hà Huy Giáp 84 Hà Huy Giáp, P.Thạnh Lộc, Q.12 (08) 37.010.305
36 Phú Nhuận VISSAN – Nguyễn Kiệm 675A Nguyễn Kiệm, P.9, Q.Phú Nhuận (08) 39.974.059
37 Phú Nhuận VISSAN – Trần Hữu Trang 83 Trần Hữu Trang, P.10, Q. Phú Nhuận (08) 39.914.584
38 Phú Nhuận VISSAN – Trần Hữu Trang 123B Trần Hữu Trang, P. 10, Q. Phú Nhuận (08) 39.914.745
39 Phú Nhuận VISSAN – 156 Phan Đình Phùng 156 Phan Đình Phùng, Q. Phú Nhuận (08) 39.903.813
40 Phú Nhuận VISSAN – Hoàng Văn Thụ 189 Hoàng Văn Thụ, P. 8, Q. Phú Nhuận (08) 38.440.483
41 Phú Nhuận VISSAN – 240 Phan Đình Phùng 240 Phan Đình Phùng, Q.Phú Nhuận (08) 39.951.710
42 Nhà Bè VISSAN – Nguyễn Văn Tạo 345 Nguyễn Văn Tạo, H.Nhà Bè (08) 62.625.223
43 Hóc Môn VISSAN – Nguyễn Ảnh Thủ 27/10 Nguyễn Ảnh Thủ, H. Hóc Môn (08) 37.030.320
44 Gò Vấp VISSAN – Huỳnh Khương An 21 Huỳnh Khương An, P. 5, Q. Gò Vấp (08) 38.944.858
45 Gò Vấp VISSAN – Thống Nhất 1/1B Thống Nhất, P.11, Q.Gò Vấp (08) 39.870.363
46 Gò Vấp VISSAN – Nguyễn Thái Sơn 267 Nguyễn Thái Sơn, P. 7, Q. Gò Vấp (08) 22.234.501
47 Gò Vấp VISSAN – Thống Nhất 114/4A1 Thống Nhất, P.11, Q. Gò Vấp (08) 62.575.422
48 Gò Vấp VISSAN – Phan Huy Ích 246 Phan Huy Ích, P.12, Q. Gò Vấp (08) 38.315.528
49 Bình Thạnh VISSAN – Lê Quang Định 490C Lê Quang Định,Bình Thạnh (08) 35.153.985
50 Bình Thạnh VISSAN – Bạch Đằng 320 Bạch Đằng, P.14, Q. Bình Thạnh (08) 38.412.044
51 Bình Thạnh VISSAN – Nguyễn Công Trứ 81Nguyễn Công Trứ, Q. Bình Thạnh (08) 35.142.026
52 Bình Thạnh VISSAN (Xô Viết Nghệ Tĩnh) 590 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Q.Bình Thạnh (08) 35.111.822
53 Bình Thạnh VISSAN – 290A Nơ Trang Long 290A Nơ Trang Long, Q. Bình Thạnh (08) 35.164.679
54 Bình Thạnh VISSAN – Bùi Đình Túy 67 Bùi Đình Túy, P.24, Q. Bình Thạnh (08) 35.113.677
55 Bình Thạnh VISSAN – D1 17 đường D1, P. 25, Q. Bình Thạnh (08) 35.121.721
56 Bình Thạnh VISSAN – 420 Nơ Trang Long 420 Nơ Trang Long, Q. Bình Thạnh 918,771,415
57 Bình Thạnh VISSAN – Bùi Hữu Nghĩa 340Bùi Hữu Nghĩa, P.2, Q. Bình Thạnh (08) 35.108.644
58 Bình Tân VISSAN – Nguyễn Thị Tú 127 Nguyễn Thị Tú, P.Bình Hưng Hòa B (08) 37.657.059
59 Bình Tân VISSAN – Đường số 1 125 đường số 1, Q. Bình Tân (08) 62.691.273
60 Thủ Đức VISSAN – Hiệp Bình Chánh 23 Đường số 3, Q.Thủ Đức (08) 37.261.101
61 Thủ Đức VISSAN – Quốc Lộ 13 97/2A Quốc Lộ 13, Q. Thủ Đức (08) 54.035.585
62 Thủ Đức VISSAN – Hiệp Bình 181 Đường Hiệp Bình, Q. Thủ Đức (08) 37.263.471
63 Tân Phú VISSAN – Đường số 1 52 Đường số 1, P.Tân Phú, Q.7 (08) 54.332.889
64 Tân Phú VISSAN – Thống Nhất 79 Thống Nhất, Q.Tân Phú (08) 62.693.077
65 Tân Phú VISSAN – Lũy Bán Bích 411 Lũy Bán Bích, Q. Tân Phú (08) 39.738.448
66 Tân Bình VISSAN – Hoàng Hoa Thám 62 Hoàng Hoa Thám, P.12, Q. Tân Bình (08) 38.115.848
67 Tân Bình VISSAN – Phú Hòa 31 Phú Hòa, P. 8, Q. Tân Bình (08) 38.646.364
68 Tân Bình VISSAN – Trường Chinh 814 Trường Chinh, P.15, Q.Tân Bình (08) 38.158.782
69 Tân Bình VISSAN – Phạm Văn Hai 318/13 Phạm Văn Hai, P. 5, Q. Tân Bình (08) 39.930.571
70 Tân Bình VISSAN – Cách Mạng Tháng Tám 1011 CMT8, P. 7, Q.Tân Bình (08) 39.778.055
71 Tân Bình VISSAN – Nguyễn Thị Nhỏ 71 Nguyễn Thị Nhỏ, P. 9, Q.Tân Bình (08) 38.687.274
72 Bình Chánh VISSAN – Quốc Lộ 50 B13/16 Quốc Lộ 50, H. Bình Chánh (08) 37.589.057
khử trùng chuồng trại

Quy trình tiêu độc sát trùng chuồng trại bằng thuốc formol

I- MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG

Tiêu độc sát trùng (TĐST) là biện pháp chủ động nhằm cắt đứt yếu tố lây truyền của mầm bệnh, góp phần quan trọng đảm bảo vệ sinh thú y trong quá trình tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm động vật đảm bảo an toàn dịch tễ, phát triển chăn nuôi động vật, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái cho nhân dân. 

Đối tượng TĐST là các trại chăn nuôi, cơ sở, điểm giết mổ gia súc gia cầm, cơ sở chế biến, nơi buôn bán động vật, sản phẩm động vật, phương tiện vận chuyển và dụng cụ.

II- CÁC HÌNH THỨC TIÊU ĐỘC SÁT TRÙNG

1- Tiêu độc định kỳ

Được thực hiện theo từng thời gian nhất định nhằm ngăn ngừa dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, vấy nhiễm bẩn sản phẩm động vật bao gồm các loại tiêu độc như sau: 

  • Tiêu độc ban đầu: 7 ngày trước khi trại chăn nuôi, cơ sở giết mổ, chế biến, nơi buôn bán bắt đầu đi vào hoạt động phải thực hiện ít nhất 3 lần. 
  • Tiêu độc trước khi hoạt động trở lại: đối với các cơ sở đã ngừng sản xuất 15 ngày trở lên, khi hoạt động trở lại phải tiêu độc trước 3 ngày. 
  • Tiêu độc thường xuyên: đối với các cơ sở giết mổ, chế biến, chợ tiến hành trước và sau mỗi ca sản xuất và định kỳ 2 tuần/ lần. Đối với trại chăn nuôi định kỳ mỗi tháng 1 lần.

2- Tiêu độc sát trùng bất thường (tiêu độc khẩn cấp)

Tiến hành khi có dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra.

III – QUY TRÌNH KỸ THUẬT

1- Trại chăn nuôi và nơi mua bán động vật

Công tác TĐST rất quan trọng, nhằm ngăn ngừa sự lây lan dịch bệnh do mầm bệnh được vận chuyển từ xa đến hay từ cơ sở lan tỏa đi. Để cắt đứt quá trình này cần chú ý: 

  • Lối ra vào khu chăn nuôi: Phải áp dụng TĐST cho người và phương tiện vận chuyển đi qua. Trước cổng ra vào phải có hố sát trùng có mái che, có độ dài tối thiểu bằng chu vi bánh xe ô tô vận tải cỡ lớn nhất, thuốc sát trùng phải được thay mới hằng ngày. 
  • Phòng thay quần áo BHLĐ: cho công nhân và khách tham quan phải được quét dọn hằng ngày. 
  • Ở lối đi và khoảng cách của từng dãy chuồng: phát hoang bụi rậm, cách xa chuồng tối thiểu 1m. 
  • Hố sát trùng ở đầu mỗi dãy chuồng: có thể dùng vôi bột, dung dịch NaOH 2 % hay Cresyl 2 %, Formol 2 % tùy điều kiện của cơ sở. 
  • Ở các ô chuồng trống: 

    • Sau mỗi đợt nuôi để trống chuồng ít nhất 2-4 tuần để làm vệ sinh TĐST chuồng trại, gia cố sửa chữa chuồng, nền trước khi nuôi mới. 
    • Làm sạch sàn, tường chuồng, các lối đi xung quanh, rèm che, trần và các thiết bị bên trong bằng nước sạch. Sau đó, dùng dung dịch NaOH 2 % hay nước vôi 10-20 % hoặc các loại hóa chất khác để xử lý chuồng trại, lối đi, quét tường, sát trùng cống rãnh.
  • Nơi mổ khám thú bệnh: phun xịt hàng ngày bằng Formol 2 %. 
  • Hố tự tiêu dùng bỏ xác động vật và chất phế thải (đối với gia cầm): được bố trí ở cuối trại, cuối hướng gió. Kích thước của hố: 1m x 1m x 1m. Hố phải có nắp đậy để ngăn ruồi đẻ trứng. Dưới đáy hố phủ một lớp vôi bột. Ngoài ra cũng rắc vôi bột hàng ngày để khử trùng và diệt dòi.
  • Nơi mua bán thú phải làm vệ sinh sau mỗi lần xuất bán.

Số lần tiêu độc sát trùng

Thực hiện TĐST định kỳ mỗi tuần/ lần đối với từng khu chuồng. Ngoài ra 1 tháng/ lần thực hiện tổng vệ sinh TĐST toàn trại 

Khi có dịch bệnh xảy ra phải báo ngay cho cơ quan thú y địa phương biết để có biện pháp khống chế và phải thực hiện TĐST mỗi ngày theo hướng dẫn của cơ quan thú y.

Một số thuốc sát trùng thông dụng

Chuồng trống, hố sát trùng đầu cổng và đầu dãy chuồng, hành lang, lối đi, hố phân, trấu có thể sử dụng một hoặc nhiều loại hóa chất sau: 

  • Chloramine B 1,5 gr/ 1 lít nước. 
  • Halamid (Chloramin T) 3 gr/ 1 lít nước. 
  • Vôi bột. 
  • Nước vôi 10 – 20 %. 
  • Formol 2 – 5 %. 
  • Soude 2 – 5 %. 
  • TH4 0,5 – 2 %. 
  • Lenka 1 -3 %. 
  • BKA pha loãng 1 % (10ml/ 1 lít nước / 3-5 m2 nền chuồng). 
  • Virkon S 1 %. 
  • Remanol Plus 1/200. 
  • DSC 1 %o. 
  • Pacoma 1/500 – 1/2000. 
  • Bột lưu huỳnh 0,04 kg/m2. 
  • Neporex 80 g/100 lít nước/80 m2 
  • Lindores 15 ml /5lít nước. 
  • Hantox-200 (diệt ruồi, muỗi, gián, kiến,…) 50 ml/20-40 lít nước phun đều trên bề mặt. 

Chuồng có gia súc:

  • Pacoma 1/700 – 1 %o. 
  • Chloramine B 2 %o, 1 %. 
  • TH4 1/200, 1/400. 
  • Virkon S 1/200. 
  • Hantox-200 (diệt KST ngoài da như ghẻ heo…) 50 ml/10-15 lít nước. 
  • Butox (phun diệt ve trên bò) 10 ml/ 5 lít nước. 

Xông kho thức ăn hay máy ấp trứng: 15g KMnO4 + 30ml Formol/ m3.

Ghi chú:

Các loại hóa chất trên nên sử dụng riêng lẻ, không pha trộn với nhau. Bình quân 3-6 tháng/lần luân phiên thay đổi hóa chất sử dụng để tránh hiện tượng kháng thuốc. 

Có 02 cách tiêu độc sát trùng: phun và xông.

Phun: hóa chất pha trong nước nóng 50 – 60 oC có tác dụng diệt khuẩn tốt nhất 

  • Đối với mặt bằng lát xi măng, lát gạch, gỗ, tường, phun liều 200 ml dung dịch/ m2 
  • Đối với mặt đất chuồng trại cống rãnh phun liều 400 ml dung dịch/ m2

Xông: thường dùng TĐST máy ấp trứng, kho thức ăn, kho chứa sản phẩm, dụng cụ dễ ăn mòn…

2- Phương tiện vận chuyển động vật và sản phẩm động vật

Các phương tiện vận chuyển là một trong những yếu tố làm lan truyền dịch bệnh một cách gián tiếp, vì vậy phải được vệ sinh TĐST trước và sau mỗi lần vận chuyển. Trước khi tiến hành TĐST, phương tiện phải để trống, làm sạch mặt trong, ngoài thùng xe, mặt ngoài đầu xe và cả bánh xe bằng nước sạch từ vòi cao áp. 

Đối với xe chở thú trong vùng dịch bệnh, phương tiện được phun lần nữa bằng dung dịch Chloramin B hoặc Lindores để ngăn ngừa sự lây nhiễm qua đường không khí, bụi bặm … Sau đó, xe phải được rửa sạch và TĐST tùy theo trường hợp:

a/ Trong trường hợp các bệnh lây cho người mà vi khuẩn không có bào tử (Salmonella, Brucellosis …), dùng một trong các chất sát trùng sau :

  • Dung dịch Sodium Hydroxide 3 % ở 70-80 0C.
  • Dung dịch Formol 2 %.
  • Dung dịch Calcium Hypochlorite với 2 % Chlor hoạt tính. 

Chất sát trùng có hiệu lực sau 1 giờ.

b/ Trong trường hợp vi khuẩn có bào tử (như Nhiệt thán ), một trong những chất sát trùng sau có thể được dùng: 

  • Dung dịch Formol 4 %. 
  • Dung dịch Calcium Hypochlorite với 5 % Chlor hoạt tính. 

Chất sát trùng được phun lặp lại 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 giờ.

c/ Trong trường hợp bị nhiễm virus (như dại …), một trong những chất sát trùng sau có thể được dùng: 

  • Dung dịch Formol 4% 
  • Dung dịch Calcium Hypochlorite với 5 % Chlor hoạt tính 

Chất sát trùng được phun lặp lại 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 giờ.

3- Lò mổ, cơ sở chế biến thực phẩm

Tiêu độc thường xuyên: cơ sở tự làm trước và sau mỗi ca sản xuất. 

Tiêu độc định kỳ: trước khi tiến hành tiêu độc, cần cọ rửa và làm sạch với nước từ vòi cao áp, tốt nhất là dùng nước ấm 40 0C pha thêm 1 % Na2CO3 hay NaHCO3 rồi rửa lại bằng nước sạch. Sau đó có thể TĐST bằng các cách sau đây: 

  • Dung dịch Formol 2 % phun sương tiếp lên bề mặt sàn tường và các vật dụng. 
  • Dung dịch NaOH 3-5.% đun nóng 70.0C với liều lượng 1 lít/m2. 
  • Dùng nước nóng có nhiệt độ tối thiểu 80 0C phun trực tiếp lên sàn, tường nhà kho và các thiết bị có bên trong, thời gian tiếp xúc là 1,5 – 2 phút. 
  • Dung dịch Cloramine B có chứa 2-5 % Chlor hoạt tính; tuy nhiên, do tính ăn mòn và tẩy màu nhẹ của hợp chất Chlor nên sau khi tiêu độc thì phải rửa sạch bề mặt của kim loại và các vật liệu sơn màu bằng nước sạch. 
  • Dung dịch Lindores có chứa 2.78 % iod hoạt chất, pha tỷ lệ 1/500 
    Sau khi TĐST với thời gian tiếp xúc thích hợp (khoảng 2 – 3 giờ) các đối tượng được TĐST phải rửa lại bằng nước sạch trước khi hoạt động trở lại.

Trường hợp có dịch bệnh: dung dịch Formol 4 % pha thêm 3 % NaOH, liều lượng 1lít/ m2.

Trường hợp kho bảo quản sản phẩm động vật tươi sống hoặc chế biến làm thức ăn cho người, nghi nhiễm các loại vi khuẩn đường ruột, dấu son heo, nhiệt thán, lao, dùng dung dịch Glutaraldehyt 1-2 % phun đều bề mặt, sàn kho, tường, dụng cụ liều lượng 1 lít/m2 hay phun áp suất cao, tạo hạt nhỏ, dùng dung dịch 3-4 % với liều 200 ml/m2 phun xong đóng cửa trong vòng 90 phút.

4- Cơ sở chế biến da

  • Tiêu độc thường xuyên: cơ sở tự thực hiện sau mỗi ca sản xuất. 
  • Tiêu độc định kỳ: trước khi tiến hành TĐST, cơ sở phải tự làm sạch bề mặt sàn, tường và các thiết bị có bên trong bằng các tác động cơ học như quét dọn, lau chùi, hút rửa với các dung dịch tẩy rửa như: xà phòng, sođa (khoảng 1 %) và sau đó rửa lại bằng nước sạch. 

Sau đó dùng dung dịch Formol 2-4 % hay Crêsyl 5-10 % phun trực tiếp lên bề mặt của sàn, tường. 

Đối với cơ sở chế biến da, tiêu độc định kỳ 1 tháng/lần.

5- Nơi buôn bán thủy hải sản, sản phẩm gia súc và gia cầm

  • Tiêu độc thường xuyên: các quầy sạp và dụng cụ có liên quan sau khi bán xong mỗi ngày, chủ sạp phải vệ sinh bằng nước sạch và xà phòng. 
  • Tiêu độc định kỳ: trước khi tiến hành TĐST, sàn quầy sạp và tường xung quanh khu vực phải được làm sạch bằng nước sạch với vòi cao áp, tốt nhất là dùng nước ấm 40 0C pha thêm 1 % Na2CO3 hay NaHCO3, rửa lại bằng nước sạch, sau đó có thể dùng một trong các chất sau để tiêu độc: 
  • Dung dịch Chloramine B với 2-5 % Chlor hoạt tính. 
  • Dung dịch Lindores có chứa 2.78 % iod hoạt chất, pha tỷ lệ 1/500. 

Chất sát trùng có hiệu lực sau 2 – 3 giờ. 

Trước khi sử dụng trở lại, những nơi được phun xịt phải được rửa bằng nước sạch. 
TĐST định kỳ 1- 2 lần/tháng tùy thuộc vào mức độ nhiễm bẩn.

V – KHUYẾN CÁO KHI TIÊU ĐỘC SÁT TRÙNG

Trước khi tiêu độc sát trùng

Các đối tượng TĐST phải dọn sạch chất hữu cơ, chất bẩn, phân … bằng cách cọ rửa và làm sạch với nước sạch từ vòi cao áp, tốt nhất là dùng nước ấm 40oC pha thêm chất tẩy rửa như Na2CO3 hay NaHCO3 ( khoảng 1% ); nếu không thuốc sẽ bị các chất này làm mất hoạt tính. 

  • Các đồ vật, dụng cụ trong phạm vi TĐST phải được sắp xếp gọn gàng. 
  • Tuyệt đối không có các sản phẩm động vật như: thịt, cá … trong lúc TĐST ở các cơ sở chế biến, lò mổ.

Sau khi tiêu độc sát trùng

Sau khi TĐST với thời gian tiếp xúc thích hợp (khoảng 2 – 3 giờ ) nên rửa lại các đối tượng được TĐST bằng nước sạch và cơ sở có thể hoạt động trở lại bình thường.

Khuyến cáo chung

  1. Số lần TĐST tùy thuộc vào mức độ nhiễm bẩn, nên định kỳ 5-7 ngày/ l lần TĐST toàn bộ chuồng trại và cơ sở. 
  2. Pha loãng thuốc đúng nồng độ theo hướng dẫn của nhà sản xuất, không nên pha thuốc đậm đặc hơn khuyến cáo. 
  3. Khi thực hiện công tác TĐST, nhân viên phải mặc quần áo BHLĐ, có găng tay, ủng, khẩu trang che mặt và kính bảo hộ, đi ngược chiều gió.
  4. Tránh để thuốc tiếp xúc với da và mắt, không được uống, để xa trẻ con; trường hợp lỡ tiếp xúc phải rửa ngay với nhiều nước sạch.
  5. Hạn chế sử dụng Formaldehyde và Glutaraldehyde có thể gây tử vong nếu nuốt, hít phải hay hấp thu qua da, cả hai loại đều có khả năng gây ung thư.
  6. Khi xảy ra ngộ độc thuốc TĐST: Đưa người bị ngộ độc hoặc nghi ngờ bị ngộ độc đến ngay cơ quan Y tế để được cứu chữa kịp thời.

TRẠM PHÒNG CHỐNG DỊCH – KDĐV (Ngày 12/5/2005)

bệnh ở thỏ

Một số bệnh ở thỏ thường gặp và cách phòng bệnh cho thỏ

Thỏ là loại vật khá khó nuôi và dễ mắc bệnh. Các bệnh của thỏ thường gặp đều khó loại bỏ hoàn toàn, nhưng nếu có cách phòng bệnh cho thỏ tốt và chăm sóc khoa học có thể hạn chế thấp nhất nguy cơ mắc bệnh ở thỏ.

Bệnh trướng hơi đầy bụng

Bệnh thường xảy ra ở những gia đình nuôi thỏ chủ yếu bằng rau lá củ quả chứa nhiều nước; có khi do thức ăn bị thối, nẫu nát, mốc hoặc chuyển tiếp thức ăn quá đột ngột từ thức ăn khô kéo dài sang thức ăn xanh với lượng lớn. Mùa hè khi thỏ khát nước mà cho uống nước cùng với thức ăn thô xanh, củ quả cũng có thể gây bệnh.

Thỏ bị trướng hơi thể hiện bụng to, phình ra, căng như quả bóng bay, thỏ không yên tĩnh, khó thở và chảy nước dãi ướt lông quanh hai mép. Nếu không điều trị, đường ruột căng hơi chèn ép các cơ quan nội tạng như phổi sẽ làm thỏ chết ngạt.

Khi thấy thỏ trướng hơi cần ngừng cho thức ăn xanh và nước uống, chỉ cho ăn ít lá chát, lá chè, lá ổi, lá sắn dây đồng thời cho uống 1- 2 thìa con dầu thực vật, lấy tay vuốt xuôi hai bên thành bụng nhiều lần, ép cho thỏ phải chạy nhảy hoạt động nhiều lần.

Cần đề phòng bệnh này bằng cách phơi các loại rau lá chứa nhiều nước trước khi cho ăn, phải chuyển tiếp thức ăn dần dần và cho thức ăn sạch có chất lượng tốt, không cho ăn rau xanh chứa nhiều nước ngay sau khi cho uống nước.

Bệnh đau bụng ỉa chảy

Thực chất của bệnh này là rối loạn tiêu hoá do chuyển tiếp thức ăn đột ngột; thức ăn, nước uống bị dính tạp chất bẩn, dính nước mưa, nước hồ ao bẩn; uống nước lạnh; hoặc thỏ nằm trên đáy lồng cao bị gió lạnh lùa vào bụng v.v… Lứa tuổi sau khi cai sữa một tuần đến khi được 3 tháng là hay bị mắc bệnh này.

Phân thỏ lúc đầu hơi nhão, sau đó lỏng dần, thấm dính bết lông quanh hậu môn. Thỏ kém ăn, lờ đờ, uống nước nhiều, gày yếu dần rồi chết.

bệnh ở thỏ

Khi thấy phân nhão cần đình chỉ ngay các loại thức ăn, nước uống hoặc yếu tố khác mất vệ sinh. Đồng thời cho uống ngay nước chiết xuất đặc của cây nhọ nồi, búp chè, búp lá ổi, cỏ sữa… Có thể cho uống Sulfaganidin với liều 0,1g/kg thể trọng, uống trong 3 ngày liền.

Bệnh cầu trùng (cocidiosis)

Đây là bệnh phổ biến, dễ gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi thỏ. Bệnh do đơn bào ký sinh Eimeria gây nên trong điều kiện chăn nuôi và vệ sinh kém. Có hai dạng bệnh do cầu trùng gan và cầu trùng ruột, hai dạng này khác nhau về bệnh tích.

Từ lúc hai tuần tuổi thỏ con đã bắt đầu sơ nhiễm kén cầu trùng, kén này thường xuyên ký sinh trong cơ thể thỏ; sau khi cai sữa, thỏ tiếp tục nhiễm cầu trùng trong phân thỏ thải ra. Nếu mật độ nuôi nhốt lớn, ẩm thấp, tối tăm, ngột ngạt, dinh dưỡng kém, thỏ thiếu chất, sức đề kháng của cơ thể giảm sút thì cầu trùng phát triển nhanh: vừa phân huỷ tế bào đường ruột, gan, vừa tiết độc tố làm thỏ gày yếu, nhiễm độc và chết, có khi chết hàng loạt vào cao điểm 2-3 tháng tuổi. Thỏ 5-6 tháng tuổi trở đi ít bị chết do cầu trùng, vì cơ thể lúc này đã có sức đề kháng cao, khả năng đồng hoá của tế bào lớn hơn, chống đỡ quá trình gây bệnh của cầu trùng. Triệu chứng lâm sàng của bệnh cầu trùng ruột là thỏ xù lông, kém ăn, đôi khi ỉa chảy, phân lông có màu xanh, nếu kết hợp với vi trùng gây bệnh viêm ruột thì phân chuyển sang màu đỏ do thấm máu. Thân nhiệt cao hơn bình thường, nước mũi, dãi chảy nhiều. Nếu là cầu trùng gan thì ngoài các triệu chứng trên còn thấy viêm kết mạc mắt, miệng vàng.

Bệnh tích cầu trùng ruột, trước hết ta thấy ở túi tiếp giáp ruột non với manh tràng và đầu ruột thừa có nhiều điểm trắng xám to bằng đầu tăm nổi lên, có khi dày đặc trên thành ruột. Do kết hợp với vi trùng đường ruột nên ở ruột thừa, ruột non thường bị viêm, niêm mạc sưng loét đỏ. Nếu cầu trùng gan thì trên mặt gan sưng to, có nhiều điểm chấm và nâu vàng có thể chất như bã đậu bọc trong tế bào gan làm cho gan cứng lại.

Khi thỏ mắc bệnh ở mức độ nặng (gày yếu) thì rất khó điều trị, cho nên chủ yếu là phải phòng bệnh thật tốt từ khi thỏ còn bú mẹ để ngăn cản sự lây lan mầm bệnh và phát bệnh. Biện pháp phòng bệnh như sau:

  • Đáy lồng chuồng phải có lỗ, rãnh thoát phân dễ dàng … Hằng ngày phải quét đọn đáy lồng, rửa máng ăn uống, không để thức ăn thô trực tiếp ở đáy lồng.
  • Thức ăn các loại phải sach sẽ, không bị ôi mốc, biến chất, phải đảm bảo chế độ dinh dưỡng và số lượng thức ăn theo nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là đủ vitamin, khoáng, muối …
  • Sau khi cai sữa, dùng các loại Sulfamit như Sulfaquinoxalin, Sulfathiazol, Sulfadimethoxin … trộn với thức ăn tinh với liều 0,1-0,2g trên 1kg thể trọng, ăn trong 7 ngày liền, nghỉ 3 ngày lại cho ăn tiếp ngày nữa sẽ có tác dụng cản trở sự phát triển của cầu trùng trong cơ thể.

Nếu trong đàn có một số con chết vì bệnh cầu trùng thì có nghĩa cả đàn đã nhiễm nặng, cần dùng thuốc như trên với liều gấp đôi và uống điều trị trong 10 ngày liền. Đồng thời bồi dưỡng thức ăn giàu đạm và vitamin.

Bệnh viêm mũi

Xoang mũi thỏ có rất nhiều vách ngăn phức tạp trong đó thường chứa đọng các vi khuẩn tiềm sinh và bụi bặm. Nếu bị tác động của môi trường không khí ngột ngạt, thay đổi thời tiết đột ngột, gió lùa mạnh, ẩm thấp, vận chuyển đường dài thỏ mệt nhọc… thì bệnh viêm mũi phát ra, đôi khi kết hợp với bệnh khác như tụ huyết trùng, tụ cầu trùng… thì bệnh trở nên nặng và phức tạp hơn.

Thỏ bị viêm mũi sẽ hắt hơi, chảy nước mũi, khó thở và thở có tiếng ran, sau đó có dịch mủ chảy ra và sốt. Thỏ thường lấy hai chân trước dụi mũi, nên lông phía trong hai bàn chân trước rối dính bết lại.

Khi thỏ mới bị viêm mũi cần phải thay đổi môi trường hợp vệ sinh và nhỏ thuốc như Chloramphenicol, Streptomycin, Kanamycin vào hai lỗ mũi, mỗi ngày nhỏ hai lần cho đến khi khỏi. Nếu bị nặng thì cần tiêm thêm streptomycin lieu 0,1g/kg thể trọng hoặc tiêm Kanamycin với liều 0,05 g/kg thể trọng trong 3 ngày liền.

phòng bệnh cho thỏ

Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tạo nên môi trường phù hợp, vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt là khi vận chuyển đi xa cần tránh mưa nắng, gió lùa mạnh, lồng vận chuyển phải có vách ngăn, có đồ lót khô, sạch, không nhốt quá chật để thỏ đè lên nhau.

Bệnh tụ huyết trùng

Trong niêm mạc đường khí quản của thỏ thường có vi trùng Pasteurella tiềm sinh. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút (do môi trường ngoại cảnh tác động như gió lùa, thay đổi thời tiết đột ngột, dinh dưỡng kém hoặc viêm mũi kéo dài…) thì loại vi trùng này có độc lực lớn hơn sẽ gây bệnh ở nhiều dạng khác nhau như: viêm phổi, viêm kết mạc, phế mạc, viêm màng ngoài tim, viêm não dẫn đến thỏ nghiêng đầu.

Bệnh lan nhanh qua đường hô hấp bằng cách hít thở phải vi trùng ô nhiễm trong phân, bụi không khí. Tụ huyết trùng lợn gà, cũng có thể lây lan sang thỏ và làm tăng độc lực cho tụ huyết trùng thỏ gây bệnh.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh là gày yếu, kém ăn, sốt cao 41- 420C, khó thở, kết mạc mắt đỏ, chảy nước mũi có lẫn dịch nhờn. Nhiều khi bệnh ở dạng cấp tính, có thể làm thỏ chết đột xuất, chết nhiều trong thời gian ngắn mà không biểu hiện lâm sàng.

Thuốc đặc hiệu là Streptomycin với liều lượng 0,1g/kg thể trọng hoặc dùng Kanamycin tiêm với liều lượng 0,05g/kg thể trọng. Tất cả đều tiêm trong 3 ngày liền.

Thỏ rất mẫn cảm với vi trùng Pasteurella nên phải đề phòng bằng cách nuôi dưỡng chăm sóc tốt, bảo quản thỏ trong môi trường hợp vệ sinh, không nên nhốt thỏ trên chuồng gà, chuồng lợn, vừa ngột ngạt, vừa có nguy cơ lây lan mầm bệnh từ gà sang thỏ.

cấu tạo dạ dày của động vật nhai lại

Đặc điểm quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ động vật nhai lại như trâu bò

Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại – (Nhà xuất bản nông nghiệp, 2003) 
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch

Chương này hệ thống và cập nhật những kiến thức cơ bản về sinh lý tiêu hoá của gia súc nhai lại. Đây là cơ sở cho việc khai thác đặc thù sinh học của loại gia súc này nhằm tận thu các phụ phẩm xơ thô phục vụ cho lợi ích của con người trong một nền nông nghiệp bền vững.

Chức năng các bộ phận của quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ

Dạ dày kép – chức năng của dạ dày 4 ngăn

cấu tạo dạ dày của động vật nhai lại

Sơ đồ 1-1: Cấu tạo dạ dày kép của gia súc nhai lại (DeLaval, 2002)

Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi (Hình 1-1), trong đó ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng. Túi thứ 4, gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh. Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, còn sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản. Rãnh thực quản gồm có đáy và hai mép. Hai mép này khi khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn lỏng. Khi bê bắt đầu ăn thức ăn cứng thì dạ cỏ và dạ tổ ong phát triển nhanh và đến khi trưởng thành thì chiếm đến khoảng 85% tổng dung tích dạ dày nói chung. Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức ăn và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong.

Dạ cỏ

Là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hoá thức ăn. Dạ cỏ không có tuyến tiêu hoá mà niêm mạc có nhiều núm hình gai. Sự tiêu hoá thức ăn trong đó là nhờ hệ vi sinh vật (VSV) cộng sinh. Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men yếm khí: yếm khí, nhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38-42oC, pH từ 5,5-7,4. Hơn nữa dinh dưỡng được bổ sung đều đặn từ thức ăn, còn thức ăn không lên men cùng các chất dinh dưỡng hoà tan và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá.

Có tới khoảng 50-80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ. Sản phẩm lên men chính là các a-xit béo bay hơi (ABBH), sinh khối VSV và các khí thể (metan và cácbônic). Phần lớn ABBH được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành nguồn năng lượng chính cho gia súc nhai lại. Các khí thể được thải ra ngoài qua phản xạ ợ hơi. Trong dạ cỏ còn có sự tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K. Sinh khối VSV và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá.

Dạ tổ ong

Là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong. Dạ tổ ong có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách. Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại. Sự lên men và hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ.

Dạ lá sách

Là túi thứ ba, niêm mạc được cấu tạo thành nhiều nếp gấp (tương tự các tờ giấy của quyển sách). Dạ lá sách có nhiệm vụ chính là nghiền ép các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, muối khoáng và các a-xit béo bay hơi trong dưỡng chấp đi qua.

Dạ múi khế

Là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị. Các dịch tuyến múi khế được tiết liên tục vì dưỡng chấp từ dạ dày trước thường xuyên được chuyển xuống. Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tương tự như dạ dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin và lipaza.

Tuyến nước bọt

Nước bọt ở trâu bò được phân tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục. Nước bọt có kiềm tính nên có tác dụng trung hoà các sản phẩm axit sinh ra trong dạ cỏ. Nó còn có tác dụng quan trọng trong việc thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại được dễ dàng. Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ cỏ các chất điện giải như Na+, K+, Ca++, Mg++. Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phốt-pho, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng N và P cho nhu cầu của VSV dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố này bị thiếu trong khẩu phần.

Sự phân tiết nước bọt chịu tác động bởi bản chất vật lý của thức ăn, hàm lượng vật chất khô trong khẩu phần, dung tích đường tiêu hoá và trạng thái tâm-sinh lý. Trâu bò ăn nhiều thức ăn xơ thô sẽ phân tiết nhiều nước bọt. Ngược lại trâu bò ăn nhiều thức ăn tinh, thức ăn nghiền quá nhỏ sẽ giảm tiết nước bọt nên tác dụng đệm đối với dịch dạ cỏ sẽ kém và kết quả là tiêu hoá thức ăn xơ sẽ giảm xuống.

Ruột

Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn ra tương tự như ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch tuỵ và sự tham gia của dịch mật.
Trong ruột già có sự lên men VSV lần thứ hai. Sự tiêu hoá ở ruột già có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở dạ cỏ. Các ABBH sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng protein VSV thì bị thải ra ngoài qua phân mà không được tiêu hoá sau đó như ở phần trên.

Ý nghĩa của việc nhai lại

Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở đó. Phần thức ăn chưa được nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng lại được ợ lên xoang miệng với những miếng không lớn và được nhai kỹ lại ở miệng. Khi thức ăn đã được nhai lại kỹ và thấm nước bọt lại được nuốt trở lại dạ cỏ.

ý nghĩa của việc nhai lại

Sự nhai lại được diễn ra 5-6 lần trong ngày, mỗi lần kéo dài khoảng 50 phút. Thời gian nhai lại phụ thuộc vào bản chất vật lý của thức ăn, trạng thái sinh lý của con vật, cơ cấu khẩu phần, nhiệt độ môi trường v.v… Thức ăn thô trong khẩu phần càng ít thì thời gian nhai lại càng ngắn. Trong điều kiện yên tĩnh gia súc sẽ bắt đầu nhai lại (sau khi ăn) nhanh hơn. Cường độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sáng và buổi chiều. Hiện tượng nhai lại bắt đầu xuất hiện khi bê được cho ăn thức ăn thô.

Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần. Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có 3 nhóm chính: vi khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi).

Vi khuẩn (Bacteria)

Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, mặc dù chúng được nuôi cách biệt hoặc cùng với mẹ chúng. Thông thường vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hóa xơ.

Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ thường là 109-1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ. Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do chiếm khoảng 30%, số còn lại bám vào các mẩu thức ăn, trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa.

Trong dạ cỏ có khoảng 60 loài vi khuẩn đã được xác định. Sự phân loại vi khuẩn dạ cỏ có thể được tiến hành dựa vào cơ chất mà vi khuẩn sử dụng hay sản phẩm lên men cuối cùng của chúng. Sau đây là một số nhóm vi khuẩn dạ cỏ chính:

  • Vi khuẩn phân giải xenluloza. Vi khuẩn phân giải xenluloza có số lượng rất lớn trong dạ cỏ của những gia súc sử dụng khẩu phần giàu xenluloza. Những loài vi khuẩn phân giải xenluloza quan trọng nhất là Bacteroides succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens, Ruminoccocus flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosolvens.
  • Vi khuẩn phân giải hemixenluloza. Hemixenluloza khác xenluloza là chứa cả đường pentoza và hexoza và cũng thường chứa axit uronic. Những vi khuẩn có khả năng thuỷ phân xenluloza thì cũng có khả năng sử dụng hemixenluloza. Tuy nhiên, không phải tất cả các loài sử dụng được hemixenluloza đều có khả năng thuỷ phân xenluloza. Một số loài sử dụng hemixenluloza là Butyrivibrio fibrisolvens, Lachnospira multiparus và Bacteroides ruminicola. Các loài vi khuẩn phân giải hemixenluloza cũng như vi khuẩn phân giải xenluloza đều bị ức chế bởi pH thấp.
  • Vi khuẩn phân giải tinh bột. Trong dinh dưỡng carbohydrat của loài nhai lại, tinh bột đứng vị trí thứ hai sau xenluloza. Phần lớn tinh bột theo thức ăn vào dạ cỏ, được phân giải nhờ sự hoạt động của VSV. Tinh bột được phân giải bởi nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ, trong đó có những vi khuẩn phân giải xenluloza. Những loài vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng là Bacteroides amylophilus, Succinimonas amylolytica, Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomonas ruminantium và Steptococcus bovis.
  • Vi khuẩn phân giải đường. Hầu hết các vi khuẩn sử dụng được các loại polysaccharid nói trên thì cũng sử dụng được đường disaccharid và đường monosaccharid. Celobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm vi khuẩn này vì chúng có men bêta- glucosidaza có thể thuỷ phân cellobioza. Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira multiparus, Selenomonas ruminantium… đều có khả năng sử dụng tốt hydratcacbon hoà tan.
  • Vi khuẩn sử dụng các axit hữu cơ. Hầu hết các vi khuẩn đều có khả năng sử dụng axit lactic mặc dù lượng axit này trong dạ cỏ thường không đáng kể trừ trong những trường hợp đặc biệt. Một số có thể sử dụng axit succinic, malic, fumaric, formic hay acetic. Những loài sử dụng axit lactic là Veillonella gazogenes, Veillonella alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii, Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica.
  • Vi khuẩn phân giải protein. Trong số những loài vi khuẩn phân giải protein và sinh amoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn nhất. Sự phân giải protein và axit amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa amoniac. Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng, đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi hay được kích thích bởi axit amin, peptit và isoaxit có nguồn gốc từ valine, leucine và isoleucine. Như vậy cần phải có một lượng protein được phân giải trong dạ cỏ để đáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ.
  • Vi khuẩn tạo mêtan. Nhóm vi khuẩn này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm, cho nên những thông tin về những VSV này còn hạn chế. Các loài vi khuẩn của nhóm này là Methano baccterium, Methano ruminantium và Methano forminicum.
  • Vi khuẩn tổng hợp vitamin. Nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K.

Động vật nguyên sinh (Protozoa)

Protozoa xuất hiện trong dạ cỏ khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thực vật thô. Sau khi đẻ và trong thời gian bú sữa dạ dày trước không có protozoa. Protozoa không thích ứng với môi trường bên ngoài và bị chết nhanh. Trong dạ cỏ protozoa có số lượng khoảng 105-106 tế bào/g chất chứa dạ cỏ. Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ. Mỗi loài gia súc có số loài protozoa khác nhau.

Protozoa trong dạ cỏ thuộc lớp Ciliata có hai lớp phụ là Entodiniômrphidia và Holotrica. Phần lớn động vật nguyên sinh dạ cỏ thuộc nhóm Holotrica có đặc điểm là ở đường xoắn gần miệng có tiêm mao, còn tất cả chỗ còn lại của cơ thể có rất ít tiêm mao.

Protozoa có một số tác dụng chính như sau:

  • Tiêu hoá tinh bột và đường. Tuy có một vài loại protozoa có khả năng phân giải xenluloza nhưng cơ chất chính vẫn là đường và tinh bột, vì thế mà khi gia súc ăn khẩu phần nhiều bột đường thì số lượng protozoa tăng lên.
  • Xé rách màng tế bào thực vật. Tác dụng này có được thông qua tác động cơ học và làm tăng diện tích tiếp xúc của thức ăn, do đó mà thức ăn dễ dàng chịu tác động của vi khuẩn.
  • Tích luỹ polysaccarit. Protozoa có khả năng nuốt tinh bột ngay sau khi ăn và dự trữ dưới dạng amylopectin. Polysaccarit này có thể được phân giải về sau hoặc không bị lên men ở dạ cỏ mà được phân giải thành đường đơn và được hấp thu ở ruột. Điều này không những quan trọng đối với protozoa mà còn có ý nghĩa dinh dưỡng cho gia súc nhai lại nhờ hiệu ứng đệm chống phân giải đường quá nhanh làm giảm pH đột ngột, đồng thời cung cấp năng lượng từ từ hơn cho nhu cầu của bản thân VSV dạ cỏ trong những thời gian xa bữa ăn.
  • Bảo tồn mạch nối đôi của các axit béo không no. Các axit béo không no mạch dài quan trọng đối với gia súc (linoleic, linolenic) được protozoa nuốt và đưa xuống phần sau của đường tiêu hoá để cung cấp trực tiếp cho vật chủ, nếu không các axit béo này sẽ bị làm no hoá bởi vi khuẩn.

Tuy nhiên gần đây nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất định :

  • Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn. Nguồn nitơ đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn. Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các amit được. Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào. Mỗi protozoa có thể thực bào 600-700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ. Do có hiện tượng này mà protozoa đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung. Protozoa cũng góp phần làm tăng nồng độ amoniac trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng.
  • Protozoa không tổng hợp được vitamin mà sử dụng vitamin từ thức ăn hay do vi khuẩn tạo nên nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ.

Nấm (Fungi)

Nấm trong dạ cỏ thuộc loại yếm khí. Nấm là vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần cấu trúc thực vật bắt đầu từ bên trong. Những loài nấm được phân lập từ dạ cỏ cừu gồm: Neocallimastix frontalis, Piramonas communis và Sphaeromonas communis.

Chức năng của nấm trong dạ cỏ là:

  • Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại. Sự phá vỡ này tạo điều kiện cho bacteria và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải xenluloza.
  • Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hoá xơ. Phức hợp men tiêu hoá xơ của nấm dễ hoà tan hơn so với men của vi khuẩn. Chính vì thế nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc độ nhanh hơn so với vi khuẩn.

Như vậy sự có mặt của nấm giúp làm tăng tốc độ tiêu hoá xơ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc tiêu hoá thức ăn xơ thô bị lignin hoá.

Tác động tương hỗ của vi sinh vật trong dạ cỏ

Vi sinh vật dạ cỏ, cả ở thức ăn và ở biểu mô dạ cỏ, kết hợp với nhau trong quá trình tiêu hoá thức ăn, loài này phát triển trên sản phẩm của loài kia. Sự phối hợp này có tác dụng giải phóng sản phẩm phân giải cuối cùng của một loài nào đó, đồng thời tái sử dụng những yếu tố cần thiết cho loài sau. Ví dụ, vi khuẩn phân giải protein cung cấp amôniac, axit amin và isoaxit cho vi khuẩn phân giải xơ. Quá trình lên men dạ cỏ là liên tục và bao gồm nhiều loài tham gia.

Trong điều kiện bình thường giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh có lợi, đặc biệt là trong tiêu hoá xơ. Tiêu hoá xơ mạnh nhất khi có mặt cả vi khuẩn và protozoa. Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào có tác dụng lên men trong đó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với các điều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động. Một số loài ciliate còn hấp thu ôxy từ dịch dạ cỏ giúp đảm bảo cho điều kiện yếm khí trong dạ cỏ được tốt hơn. Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axit lactic, hạn chế giảm pH đột ngột, nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ.

Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn của nhau. Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm và do đó mà tỷ lệ tiêu hoá xơ thấp. Đó là vì sự có mặt của một lượng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng (như các loại khoáng, amoniac, axit amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xơ vốn phát triển chậm hơn.

Sơ đồ 1-3: Liên quan giữa pH và hoạt lực của các nhóm VSV dạ cỏ

Liên quan giữa pH và hoạt lực của các nhóm VSV dạ cỏ

Mặt khác, tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đường và vi khuẩn phân giải xơ còn liên quan đến pH trong dạ cỏ (Sơ đồ 1-3). Chenost và Kayouli (1997) giải thích rằng quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ >6,2, ngược lại quá trình phân giải tinh bột trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH <6,0. Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho ABBH sản sinh ra nhanh, làm giảm pH dịch dạ cỏ và do đó mà ức chế hoạt động của vi khuẩn phân giải xơ.

Tác động tiêu cực cũng có thể thấy rõ giữa protozoa và vi khuẩn. Như đã trình bày ở trên, protozoa ăn và tiêu hoá vi khuẩn, do đó làm giảm tốc độ và hiệu quả chuyển hoá protein trong dạ cỏ. Với những loại thức ăn dễ tiêu hoá thì điều này không có ý nghĩa lớn, song đối với thức ăn nghèo N thì protozoa sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn nói chung. Loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ làm tăng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ. Thí nghiệm trên cừu cho thấy tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô tăng 18% khi không có protozoa trong dạ cỏ (Preston và Leng, 1991).

Như vậy, cấu trúc khẩu phần ăn của động vật nhai lại có ảnh hưởng rất lớn đến sự tương tác của hệ VSV dạ cỏ. Khẩu phần giàu các chất dinh dưỡng không gây sự cạnh tranh giữa các nhóm VSV, mặt cộng sinh có lợi có xu thế biểu hiện rõ. Nhưng khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhóm VSV, ức chế lẫn nhau, tạo khuynh hướng bất lợi cho quá trình lên men thức ăn nói chung.

Vai trò của vi sinh vật dạ cỏ đối với vật chủ

Phân giải gluxit

Gluxit của thức ăn được phân giải bởi VSV trong dạ cỏ. Quá trình phân giải này của VSV rất quan trọng bởi vì 60-90% gluxit (carbohydrat) của khẩu phần, kể cả vách tế bào thực vật, được lên men trong dạ cỏ .

Sơ đồ 1-4: Tóm tắt quá trình chuyển hoá hydratcarbon trong dạ cỏ

Vách tế bào là thành phần quan trọng của thức ăn xơ thô được phân giải một phần bởi VSV nhờ có men phân giải xơ (xenlulaza) do chúng tiết ra. Quá trình phân giải các carbohydrat phức tạp sinh ra các đường đơn. Đối với gia súc dạ dày đơn thì đường đơn, như glucoza, là sản phẩm cuối cùng được hấp thu, nhưng đối với gia súc nhai lại thì đường đơn được VSV dạ cỏ lên men để tạo ra các ABBH. Phương trình tóm tắt mô tả sự lên men glucoza, sản phẩm trung gian của quá trình phân giải các gluxit phức tạp, để tạo các ABBH như sau:

  1. Axit axetic: C6H12O6 + 2H2O —-> 2CH3COOH + 2CO2 + 4H2
  2. Axit propionic: C6H12O6 + 2H2 ——> 2CH3CH2COOH + 2H2O
  3. Axit butyric: C6H12O6 ——-> CH3-CH2CH2COOH + 2CO2 + 2 H2
  4. Khí mê tan: m4H2 + CO2 ——-> CH4 + 2H2O

Như vậy, sản phẩm cuối cùng của sự lên men carbohydrat thức ăn bởi VSV dạ cỏ gồm: Các axit béo bay hơi, chủ yếu là a. axetic (C2), a.propyonic (C3), a. butyric (C4) và một lượng nhỏ các axit khác (izobytyric, valeric, izovaleric). Các ABBH này được hấp thu qua vách dạ cỏ vào máu và là nguồn năng lượng chính cho vật chủ. Chúng cung cấp khoảng 70-80% tổng số năng lượng được gia súc nhai lại hấp thu. Trong khi đó gia súc dạ dày đơn lấy năng lượng chủ yếu từ glucoza và lipit hấp thu ở ruột. Tỷ lệ giữa các ABBH phụ thuộc vào bản chất của các loại gluxit có trong khẩu phần.

Các ABBH được sinh ra trong dạ cỏ được cơ thể bò sữa sử dụng vào các mục đích khác nhau:

  • Axít acetic (CH3COOH ) được bò sữa sử dụng chủ yếu để cung cấp năng lượng thông qua chu trình Creb sau khi được chuyển hoá thành axetyl-CoA. Nó cũng là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại mỡ, đặc biệt là mỡ sữa.
  • Axít propionic (CH3CH2COOH ) chủ yếu được chuyển đến gan, tại đây nó được chuyển hoá thành đường glucoza. Từ gan glucoza sẽ được chuyển vào máu nhằm bảo đảm sự ổn định nồng độ glucoza huyết và tham gia vào trao đổi chung của cơ thể. Đường glucoza được bò sữa sử dụng chủ yếu làm nguồn năng lượng cho các hoạt động thần kinh, nuôi thai và hình thành đường lactoza trong sữa. Một phần nhỏ axit lactic sau khi hấp thu qua vách dạ cỏ được chuyển hoá ngay thành axit lactic và có thể được chuyển hoá tiếp thành glucoza và glycogen.
  • Axít butyric(CH3CH2CH2COOH) được chuyển hoá thành bêta-hydroxybutyric khi đi qua vách dạ cỏ, sau đó được sử dụng như một nguồn năng lượng bởi một số mô bào, đặc biệt là cơ xương và cơ tim. Nó cũng có thể được chuyển hoá dễ dàng thành xeton và gây độc hại cho bò sữa khi có nồng độ hấp thu quá cao.

Hoạt động lên men gluxit của vi sinh vật dạ cỏ còn giải phóng ra một khối lượng khổng lồ các thể khí, chủ yếu là CO2 và CH4. Các thể khí này không được bò sữa lợi dụng, mà chúng đều được thải ra ngoài cơ thể thông qua phản xạ ợ hơi.

Chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ

Các hợp chất chứa nitơ, bao gồm cả protein và phi protein, khi được ăn vào dạ cỏ sẽ bị VSV phân giải. Mức độ phân giải của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là độ hoà tan. Các nguồn nitơ phi protein (NPN) trong thức ăn, như urê, hoà tan hoàn toàn và nhanh chóng phân giải thành amôniac.

Trong khi tất cả NPN được chuyển thành amoniac trong dạ cỏ, thì có một phần – nhiều hay ít tùy thuộc vào bản chất của thức ăn – protein thật của khẩu phần được VSV dạ cỏ phân giải thành amoniac. Amôniac trong dạ cỏ là yếu tố cần thiết cho sự tăng sinh của hầu hết các loài vi khuẩn trong dạ cỏ. Các vi khuẩn này sử dụng amôniac để tổng hợp nên axit amin của chúng. Nó được coi là nguồn nitơ chính cho nhiều loại vi khuẩn, đặc biệt là những vi khuẩn tiêu hoá xơ và tinh bột.

Sinh khối vi sinh vật sẽ đến dạ múi khế và ruột non theo khối dưỡng chấp. Tại đây một phần protein vi sinh vật này sẽ được tiêu hoá và hấp thu tương tự như đối với động vật dạ dày đơn. Trong sinh khối protein VSV có khoảng 80% là protein thật có chứa đầy đủ các axit amin không thay thế với tỷ lệ cân bằng. Protein thật của VSV được tiêu hoá khoảng 80-85% ở ruột.
Sơ đồ 1-5: Sự chuyển hoá các chất chứa nitơ trong dạ cỏ

Nhờ có VSV dạ cỏ mà gia súc nhai lại ít phụ thuộc vào chất lượng protein thô của thức ăn hơn là động vật dạ dày đơn bởi vì chúng có khả năng biến đổi các hợp chất chứa N đơn giản, như urê, thành protein có giá trị sinh học cao. Bởi vậy để thỏa mãn nhu cầu duy trì bình thường và nhu cầu sản xuất ở mức vừa phải thì không nhất thiết phải cho gia súc nhai lại ăn những nguồn protein có chất lượng cao, bởi vì hầu hết những protein này sẽ bị phân giải thành amôniac; thay vào đó amôniac có thể sinh ra từ những nguồn N đơn giản và rẻ tiền hơn. Khả năng này của VSV dạ cỏ có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với sản xuất vì thức ăn chứa protein thật đắt hơn nhiều so với các nguồn NPN.

Chuyển hoá lipit

Trong dạ cỏ có hai quá trình trao đổi mỡ có liên quan với nhau: phân giải lipit của thức ăn và tổng hợp mới lipit của VSV. Triaxylglycerol và galactolipit của thức ăn được phân giải và thuỷ phân bởi lipaza VSV. Glyexerol và galactoza được lên men ngay thành ABBH. Các axit béo giải phóng ra được trung hoà ở pH của dạ cỏ chủ yếu dưới dạng muối canxi có độ hoà tan thấp và bám vào bề mặt của vi khuẩn và các tiểu phần thức ăn. Chính vì thế tỷ lệ mỡ quá cao trong khẩu phần thường làm giảm khả năng tiêu hoá xơ ở dạ cỏ.

Trong dạ cỏ còn xảy ra quá trình hydrogen hoá và đồng phân hoá các axit béo không no. Các axit béo không no mạch dài (linoleic, linolenic) bị làm bão hoà (hydrogen hoá thành axit stearic) và sử dụng bởi một số vi khuẩn. Một số mạch nối đôi của các axit béo không no có thể không bị hydrogen hoá nhưng được chuyển từ dạng cis sang dạng trans bền vững hơn.

Các axit béo có mạch nối đôi dạng trans này có điểm nóng chảy cao hơn và hấp thu (ở ruột non) và chuyển vào mô mỡ làm cho mỡ của gia súc nhai lại có điểm nóng chảy cao.
Vi sinh vật dạ cỏ còn có khả năng tổng hợp lipit có chứa các axit béo lạ (có mạch nhánh và mạch lẻ) do sử dụng các ABBH có mạch nhánh và mạch lẻ được tạo ra trong dạ cỏ. Các axit này sẽ có mặt trong sữa và mỡ cơ thể của vật chủ.

Như vậy, lipit của VSV dạ cỏ là kết quả của việc biến đổi lipit của thức ăn và lipit được tổng hợp mới.

Khả năng tiêu hoá mỡ của VSV dạ cỏ rất hạn chế, cho nên khẩu phần nhiều mỡ sẽ cản trở tiêu hoá xơ và giảm thu nhận thức ăn. Tuy nhiên, đối với phụ phẩm xơ hàm lượng mỡ trong đó rất thấp nên dinh dưỡng của gia súc nhai lại ít chịu ảnh hưởng của tiêu hoá mỡ trong dạ cỏ.

Cung cấp vitamin

Một số nhóm VSV dạ cỏ có khả năng tổng hợp nên các loại viatmin nhóm B và vitamin K.

Giải độc

Nhiều bằng chứng cho thấy VSV dạ cỏ có khả năng thích nghi chống lại một số chất kháng dinh dưỡng. Nhờ khả năng giải độc này mà gia súc nhai lại, đặc biệt là dê, có thể ăn một số loại thức ăn mà gia súc dạ dày đơn ăn thường bị ngộ độc như lá sắn, hạt bông.

Nhận xét chung về tiêu hoá ở động vật nhai lại nhai lại

Tác dụng tích cực của VSV dạ cỏ

Phân giải được chất xơ nên giảm cạnh tranh thức ăn với người và gia súc cũng như gia cầm khác.

trao đổi ni tơ

  • Sử dụng được NPN nên giảm nhu cầu protein thực trong khẩu phần (Sơ đồ 1-6).
  • Nâng cấp chất lượng protein góp phần giảm nhu cầu axit amin không thay thế.
  • Tổng hợp được một số vitamin (B, K) và do đó mà giảm cung cấp từ thức ăn.
  • Giải độc nhờ VSV dạ cỏ nên gia súc nhai lại ăn được nhiều loại thức ăn.

Tác động tiêu cực của tiêu hoá dạ cỏ

  • Làm mất mát năng lượng thức ăn do lên men (nhiệt, mêtan) và năng lượng mang dạ cỏ.
  • Phân huỷ protein chất lượng cao gây lãng phí.
  • Hydrrogen hoá một số axit béo không no quan trọng cần cho vật chủ.
  • Khí mêtan sinh ra gây hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Nguồn: Viện Chăn nuôi

dịch tả lợn châu phi

Bài tuyên truyền dịch tả lợn châu phi triệu chứng và cách phòng chống

Trước nguy cơ dịch tả lợn châu Phi bùng phát và lây lan nhanh tại các địa phương trên cả nước. Các bộ ban ngành đều vào cuộc mạnh mẽ nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, ổn định tâm lý người dân, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu thịt lợn khi dịch bệnh đi qua.

Bệnh dịch tả lợn châu Phi là gì?

Bệnh Dịch tả lợn châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã); bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây bệnh dịch tả lợn Châu Phi có sức đề kháng cao với môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trở nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.

dịch tả lợn châu phi

Đặc điểm của vi rút dịch tả lợn châu Phi

Vi rút dịch tả lợn Châu Phi có trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

Vi rút dịch tả lợn Châu phi có sức đề kháng cao, có khả năng chịu được ở nhiệt độ thấp: ở trong thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao vi rút có thể tồn tại được 3-6 tháng; ở nhiệt độ 56c tồn tại được 70 phút; ở nhiệt độ 60% trong 20 phút; trong máu đã phân hủy được 5 tuần; trong máu khô được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu ở nhiệt độ 4c được 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39c được 150 ngày, trong giăm bông được 140 ngày.

Con đường lây bệnh

Vi rút dịch tả lợn Châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: Chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh.

Triệu chứng dịch tả lợn châu Phi

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3-4 ngày.

  • Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng lâm sáng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.
  • Thể cấp tính: Lợn sốt cao (40,5- 42°C). Trong 2-3 ngày đầu tiên lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ , nằm chồng đống, lợi thích nằm chỗ có bóng rẫn hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang mầu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuối, cẳng chân, đa phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có mầu sẫm xanh tím. Trong 1-2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phấn có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6-13 ngày hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút dịch tả lợn châu Phi trong suốt cuộc đời.
  • Thể á cấp tính: Lợn biểu hiện triệu chứng sốt nhẹ; hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, ho khó thở, viêm khớp, đi lại khó khăn, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15-45 ngày, tỷ lệ chết khoảng 30-70 %. Lợi có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.

Bệnh tích

Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trọng xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong, túi mật sưng.

Cách phòng chống dịch tả lợn châu phi

Hiện nay chưa có vắc xin phòng và thuốc điều trị được bệnh Dịch tả châu Phi, vì vậy để ngăn chặn bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xâm nhiễm vào địa bàn cần thực hiện một số biện pháp cụ thể sau:

Khi chưa có bệnh

  • Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi là giải pháp phòng bệnh hiệu quả nhất và quan trọng nhất; thường xuyên vệ sinh, sát trùng, tiêu độc tại các cơ sở, vùng chăn nuôi lợn, các phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, các chợ, điểm buôn bán, giết mổ lợn và các sản phẩm của lợn bằng vôi bột hoặc hóa chất và vệ sinh cá nhân những người tham gia chăn nuôi; hằng ngày thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc sau mỗi buổi họp chợ, mỗi ca giết mổ lợn.
  • Nghiêm cấm mọi hình thức vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, không rõ nguồn gốc, kể cả hình thức cho, tặng của các tổ chức, cá nhân và cư dân khu vực biên giới; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển trái phép động vật, sản phẩm động vật từ nước ngoài vào Việt Nam.
  • Tăng cường theo dõi, giám sát lâm sàng đối với các đàn lợn; kịp thời phát hiện, cách ly và lấy mẫu xét nghiệm đối với lợn bị bệnh, nghi bị bệnh.
  • Tuân thủ các quy định về quản lý, vận chuyển, kiểm dịch vận chuyển  buôn bán lợn và các sản phẩm của lợn.
  • Đối với cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn phải thực hiện lợn đưa vào giết mổ phải có nguồn gốc rõ ràng, nghiêm cấm không được giết mổ lợn khi nghi ngờ lợn có biểu hiện bị bệnh phải dừng ngay việc giết mổ thông tin cho cơ quan chuyên môn biết để kiểm tra xác minh và có biện pháp xử lý kịp thời.

Khi có bệnh xuất hiện

  • Thông tin kịp thời cho nhân viên thú y xã phường, chính quyền và cơ quan thú y nơi gần nhất bất khi khi nào phát hiện lợn, các sản phẩm lợn nghi bị bệnh, nghi nhiễm mầm bệnh hoặc khi được vận chuyển nhập lậu, nghi nhập lậu.
  • Tiêu hủy đàn lợn nhiễm bệnh và các đàn lợn xung quanh có nguy cơ nhiễm bệnh theo hướng dẫn của cơ quan Thú y .
  • Khoanh vùng dịch, vùng đệm để áp dụng các giải pháp kỹ thuật cụ thể và phù hợp cho từng vùng.
  • Không điều trị lợn bệnh, nghi mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi.
  • Chính quyền và các cơ quan chuyên môn cần tổ chức thực hiện ngay các biện pháp xử lý ổ dịch, các biện pháp phòng, chống theo đúng quy định của Luật thú y và các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật; đặc biệt phải dừng việc vận chuyển lợn, sản phẩm của lợn, kể cả sản phẩm đã qua chế biến chín từ nơi đã có lợn, sản phẩm lợn được xác định dương tính với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.
thành viên wto

Các thủ tục trở thành thành viên WTO

Điều khoản XII của hiệp định Marrakech về WTO có quy định “việc gia nhập phụ thuộc vào thỏa thuận đồng ý giữa nước xin gia nhập và WTO”. Việc gia nhập WTO thường là một quá trình đàm phán, tương đối khác so với các tổ chức quốc tế khác.

Vì quyết định của ban công tác xét duyệt (Working Party) được tiến hành trên cơ sở đồng thuận nên tất cả các nước gia nhập phải đáp ứng tất cả các yêu cầu song phương và đa phương của các thành viên trong ban công tác xét duyệt.

Ai có thể xin gia nhập?

Tất cả các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có quyền tự trị về chính sách ngoại thương đều có thể tham gia WTO trên cơ sở thỏa thuận với các thành viên WTO (theo Điều khoản XII).

Đơn xin gia nhập

Quá trình gia nhập bắt đầu bằng việc gửi một lá thư xin gia nhập chính thức. Thư xin gia nhập này sẽ được Đại hội đồng WTO xem xét và sau đó sẽ thành lập Ban công tác xét duyệt (Working Party) việc gia nhập của nước xin gia nhập. Ban công tác xét duyệt sẽ xem xét đơn xin gia nhập của nước này và sau đó sẽ đệ trình những nhận xét của mình lên đại hội đồng phê duyệt. Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia ban công tác xét duyệt.

Nộp bị vong lục về chính sách ngoại thương. Chính phủ xin gia nhập sẽ đệ trình bị vong lục về chính sách ngoại thương của mình cho Ban công tác xét duyệt. Bị vong lục này sẽ là nền tảng cho việc xem xét của Ban công tác xét duyệt. Các cuộc họp tiếp theo của Ban công tác xét duyệt sẽ xem xét các câu hỏi đặt ra bởi các thành viên WTO đối với thông tin của bị vong lục và các trả lời của chính phủ xin gia nhập.

Điều kiện gia nhập

Sau khi xem xét tổng thế chính sách ngoại thương nước xin gia nhập, ban công tác xét duyệt sẽ tham gia vào các phiên đàm phán đa phương liên quan đến việc gia nhập. Quá trình này sẽ đưa ra các điều khoản và điều kiện gia nhập. Các điều kiện này có thể buộc nước xin gia nhập phải có các thay đổi đối với hệt thống pháp luật và các thay đổi hệ thống khác để thực hiện các cam kết.

Đàm phán song phương

Cùng trong quá trình xin gia nhập, các nước sẽ phải tiến hành đàm phán với các nước có yêu cầu đàm phán. Kết quả của quá trình đàm phán song phương này sẽ được tổng hợp trong một tài liệu cho “gói hồ sơ xin gia nhập” cuối cùng.

“Gói hồ sơ xin gia nhập” cuối cùng sẽ gồm 3 bộ tài liệu thông báo kết quả của các cuộc đàm phán song phương và đa phương:

  1. Một báo cáo của ban công tác xét duyệt việc gia nhập trong đó tóm tắt quá trình tiến hành các điều kiện của gia nhập và một nghị định thư gia nhập.
  2. Báo cáo về lộ trình các cam kết về mở cửa hàng hóa và dịch vụ được thỏa thuận giữa quốc gia xin gia nhập và các thành viên WTO.

Thông qua hồ sơ xin gia nhập

Sau khi dự thảo báo cáo, nghị định thư gia nhập của ban công tác xét duyệt và báo cáo lộ trình cam kết mở cửa được các nước thành viên trong WP đồng ý, gói hồ sơ gia nhập sẽ được phê duyệt tại phiên họp cuối cùng của ban công tác xét duyệt. Hồ sơ này sau đó sẽ được đệ trình lên Đại Hội đồng hoặc hội nghị Bộ trưởng của WTO thông qua.

Trở thành thành viên chính thức

Sau khi được Đại hội đồng thông qua, nước xin gia nhập có thể tùy ý ký Nghị định thư gia nhập trong vòng 3 tháng. 30 ngày sau khi thông báo cho ban thư ký WTO về việc phê chuẩn của mình, quốc gia xin gia nhập sẽ trở thành thành viên chính thức.

công ty thuốc thú y

Danh sách 66 công ty thuốc thú y Đạt chứng nhận GMP tại Việt Nam (9/2017)

Danh sách các công ty sản xuất thuốc thú y đạt chứng nhận GMP (Tháng 9/2017)

TT Tỉnh Tên công ty Địa chỉ
1 Bắc Giang Công ty Cổ phần thuốc thú y Đất Việt Lô D5-D6 Khu CN Đình Trám, huyện Việt Yên, Bắc Giang
2 Bắc Ninh Công ty TNHH TM&SX thuốc thú y

Diễm Uyên (Huphavet)

Đường TS 12 KCN Tiên Sơn, Bắc Ninh
3 Bắc Ninh Công ty Cổ phần thuốc thú y Toàn Thắng Số 2, TS 17, KCN Tiên Sơn, Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
4 Bắc Ninh Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển công nghệ Sakan Việt Nam KCN Đa nghề Đông Thọ, xã Đông Thọ, H. Đông Phong, tỉnh Bắc Ninh
5 Bắc Ninh Công ty Cổ phần VB Pharma Số 7, đường 3, KCN đô thị và dịch vụ VSIP Bắc Ninh,

TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

6 Thái Bình Công ty TNHH Việt Trung TT Hưng Hà, Hưng Hà, Thái Bình
7 Thái Nguyên Công ty Cổ Phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet Trung Thành, Phổ Yên, Thái Nguyên
8 Hà Nội Công ty Cổ phần phát triển công nghệ nông thôn (RTD) An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội
9 Hà Nội Công ty TNHH thuốc thú y Bình Minh Cụm Công nghiệp Phùng, Đan Phượng, Hà Nội
10 Hà Nội Công ty Cổ phần Sóng Hồng An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội
11 Hà Nội Công ty Cổ phần Medion Việt Nam Lô NM5, cụm Công nghiệp Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội
12 Hà Nội Công ty Cổ phần đầu tư liên doanh Việt Anh Cụm Công nghiệp Liên Phương, Thường Tín, Hà Nội
13 Hà Nội Công ty Cổ phần thuốc thú y SVT

Thái Dương

Khu công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh, Hà Nội
14 Hà Nội Công ty Cổ phần thuốc thú y Trung ương 5 (Fivevet) CCN Hà Bình Phương, Thường Tín, Hà Nội
15 Hà Nội Công ty TNHH thuốc thú y Năm Thái Lô 3, CN-CCN Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội
16 Hà Nội Công ty TNHH TM&DV Phát triển

Chăn Nuôi

Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
17 Hà Nội Công ty Cổ phần thuốc thú y Trung ương I (Vinavetco) Cụm công nghiệp Tân Quang, Văn Lâm, Hưng Yên
18 Hà Nội Công ty TNHH thuốc thú y Việt Nam (Pharmavet) Lô 28, KCN Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội
19 Hà Nội Công ty Cổ phần SX-TM thuốc thú y CNC Lô 2 KCN Lai Xá, Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội
20 Hà Nội Công ty Cổ phần XNK Biovet KCN Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội
21 Hà Nội Công ty Cổ phần thuốc thú y TW VETVACO Xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội
22 Hà Nội Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học thú y (BTV) Biên Giang, Hà Đông, Hà Nội
23 Hà Nội Công ty Cổ phần XNK Dược thú y Nasa Tiểu khu Phú Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội
24 Hưng Yên Công ty TNHH Dược HANVET Khu CN phố Nối A, Mỹ Hào, Hưng Yên
25 Hưng Yên Công ty Cổ phần Hùng Nguyên Phùng Chí Kiên, Mỹ Hào, Hưng Yên
26 Hưng Yên Công ty TNHH MTV Avac Việt Nam Trưng Trắc, Văn Lâm, Hưng Yên
27 Hưng Yên Công ty TNHH Dược Thú Y Thăng Long 2 Xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
28 Hưng Yên Công ty TNHH Kyoto Biken Hà Nội Laboratories Lô F6, KCN Thăng Long 2, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
29 Hà Nam Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại VMC Việt Nam Cụm công nghiệp Cầu Giát, xã Chuyên Ngoại, Duy Tiên,

tỉnh Hà Nam

30 Khánh Hòa Phân viện Thú y Miền Trung Km4, đường 2/4, Vĩnh Hòa, Nha Trang, Khánh Hòa
31 Bình Dương Công ty Liên doanh TNHH Anova 36 Đại lộ Độc Lập, KCN Việt Nam-Singapo, Thuận An, Bình Dương
32 Bình Dương Công ty TNHH TM & SX thuốc thú y

Minh Dũng

47/4B Khu phố Khánh Hội, Tân Phước Khánh, Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
33 Bình Dương Công ty TNHH Bayer Việt Nam Ấp 4, Uyên Hưng, Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
34 Bình Dương Công ty TNHH A.S.T.A Xã Tân Hiệp, H. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
35 Bình Dương Công ty TNHH thuốc thú y Safa-vedic 143/46 Khu phố Tân Hòa, Đông Hoà, Dĩ An,

tỉnh Bình Dương

36 Bình Dương Công ty Cổ phần thuốc thú y TW NAVETCO Lô 205 KCN Việt Nam-Singapore (VSIP1), Bình Dương.
37 Bình Dương Công ty Cổ phần dược phẩm Anvet Lô B2-19, KCN Tân Đông Hiệp B, P. Tân Đông Hiệp, TX Dĩ An, tỉnh Bình Dương
38 Bình Dương Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam Số 24, đường 26, KCN Sóng Thần 2, Dĩ An, Bình Dương
39 Bình Dương Công ty TNHH Emivest Feedmill Việt Nam Lô A-11C-CN, KCN Bàu Bàng, xã Lai Uyên,

huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương

40 Đồng Nai Công ty TNHH TM-SX Việt Thọ KCN Sông Mây, Trảng Bom, Đồng Nai
41 Đồng Nai Công ty TM & SX thuốc thú y Thịnh Á (ASIFAC) Đường số 5 KCN Giang Điền, Trảng Bom, Đồng Nai
42 Đồng Nai Công ty TNHH Virbac Việt Nam KCN Sông Mây, Trảng Bom, Đồng Nai
43 Đồng Nai Công ty TNHH Y.S.P Việt Nam Đường số 6, KCN Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch, Đồng Nai
44 Tây Ninh Công ty TNHH Sản xuất-Thương mại MEBIPHAR Lô A11-1 đường Trung Tâm KCN Bourbon An Hòa,

H. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

45 TP.HCM Công ty TNHH TM-SX thuốc thú y         Song Vân 274 Hồ Văn Thắng, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi,

Tp. Hồ Chí Minh

46 TP.HCM Công ty Cổ Phần CTCBIO Việt Nam Lô I5-3 Khu công nghệ cao, quận 9, TP.Hồ Chí Minh
47 TP.HCM Công ty Liên doanh Bio- Pharmachemie 2/3 Tăng Nhơn Phú, P. Phước Long B, Q.9,

Tp. Hồ Chí Minh

48 TP.HCM Công ty TNHH Quốc Minh 20/3 Tam Bình, KP8, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức,

Tp. Hồ Chí Minh

49 TP.HCM Công ty TNHH TM&SX thuốc thú y Napha 159 Bùi Công Trừng, Nhị Bình, Hóc Môn,

Tp. Hồ Chí Minh

50 TP.HCM Công ty TNHH UV Số 18, Lô G, đường D1, KCN An Hạ, xã Phạm Văn Hai,

H. Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh

51 TP.HCM Công ty TNHH Dược Thú y Greensun Lô C1-1/X6, đường D4, KCN Tân Phú Trung, Củ Chi,

Tp. Hồ Chí Minh

52 TP.HCM Công ty TNHH TM-SX Việt Viễn 72, đường số 20, phường 6, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh
53 TP.HCM Công ty TNHH KD thuốc thú y Minh Ngân Lô A5-2, đường D8, KCN Đông Nam, Bình Mỹ, Củ Chi,

Tp. Hồ Chí Minh

54 TP.HCM Công ty TNHH TM&SX thuốc thú y Anpha 2/7 đường 1A, P. Long Thạnh Mỹ, Q.9, Tp. Hồ Chí Minh
55 Long An Công ty TNHH TM&SX thuốc thú y

Gấu Vàng

Lô D12, đường số 2, KCN Nhựt Chánh, H. Bến Lức,

tỉnh Long An

56 Long An Công ty Cổ phần Inter Pharma Lô LE6-03 Đường số 8, Khu công nghệp Xuyên Á,

Đức Hòa, Long An

57 Long An Công ty Cổ phần Anova Pharma CCN Tập đoàn Anova, Long Cang, Cần Đước, Long An
58 Long An Công ty TNHH sản xuất kinh doanh thuốc thú y Minh Huy Lô A111, đường số 2, KCN Thái Hòa, huyện Đức Hòa,

tỉnh Long An

59 Long An Công ty TNHH Công nghệ Nano hợp nhất APA KCN Vĩnh Lộc 2, Long Hiệp, H. Bến Lức, tỉnh Long An
60 Tiền Giang Công ty Cổ phần thuốc thú y Cai Lậy Khu 5,thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
61 Hậu Giang Công ty TNHH MTV thuốc thú y & CPSH (Vemedim) KCN Sông Hậu, xã Đông Phú, H. Châu Thành,

tỉnh Hậu Giang

62 Cần Thơ Công ty Cổ phần Thiên Quân Lô 19-F2, đường số 5, KCN Trà Nóc 1, P. Trà Nóc,

Q. Bình Thủy, Tp. Cần Thơ

63 Cần Thơ Công ty Cổ phần SXKD Vật tư và thuốc thú y Cần Thơ (Vemedim) 07, Đại lộ 30/4, Xuân Khánh, Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ
64 Cần Thơ Công ty TNHH thuốc thú y Á Châu 130 quốc lộ 1A, P.Ba Láng, Cái Răng, Tp. Cần Thơ
65 Cần Thơ Công ty TNHH thuốc thú y 1/5 Lô 2-19A-Khu Công nghiệp Trà Nóc II, Tp. Cần Thơ
66 Cần Thơ Công ty TNHH thuốc thú y Cần Thơ -Veterco 19A đường số 1, KCN Trà Nóc, quận Bình Thủy,

Tp. Cần Thơ